Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi Muốn phát triển nhận thức cho trẻ ở bất kì lứa tuổi nào có hiệu quả trước tiên các nhà giáo dục cần hiểu rất rõ những đặc điểm tâm lý nói chung và đặc điểm nhận thức của trẻ ở từng lứa tuổi. Ở đây, tác giả chỉ tập trung tìm hiểu về đặc điểm nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi. Tư duy Theo Nguyễn Ánh Tuyết (2014) với trẻ 5 - 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy hành động trực quan, tư duy trừu tượng, tư duy hình ảnh trong đó tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế.
Tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng được phát triển ở trẻ và giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan [24]. Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác. Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ. Tư duy của trẻ dần dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn.
Dần dần trẻ phân biệt được thực và hư. Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không gian, thời gian, quan hệ xã hội.Ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình, trách nhiệm đối với hành vi. Các phẩm chất của tư duy đã bộc lộ đủ về cấu tạo và chức năng hoạt động của nó như tính mục đích, độc lập sáng tạo, tính linh hoạt, độ mềm dẻo. Cùng với sự phát triển của tư duy - hình tượng, kiểu tư duy trực quan - sơ đồ bắt đầu phát triển ở cuối tuổi mẫu giáo.
Tư duy trực quan - sơ đồ giúp trẻ hiểu ra một nguyên lí khá trừu tượng là bất cứ một đối tượng nguyên vẹn nào cũng đều được chia thành nhiều bộ phận và có thể khôi phục những bộ phận đó lại thành một chỉnh thể. Đồng thời ở lứa tuổi này cũng xuất hiện một số yếu tố tư duy logic. Cảm giác - tri giác 12 Luan van Trẻ 5 - 6 tuổi dễ dàng hòa đồng vào các sự kiện, hòa mình với nhân vật, hòa mình vào trong các hình tượng trong các tác phẩm nghệ thuật, đồng nhất, biến mình trong đó. Với đặc trưng tâm lý lứa tuổi riêng biệt, trẻ cảm nhận cuộc sống luôn hiện ra những điều mới mẻ, ngay cả cuộc sống bình thường diễn ra hằng ngày đối với trẻ cũng đầy sự mới lạ, hấp dẫn.
Tuy nhiên, mọi sự vật, hiện tượng, mọi suy nghĩ, hành động nằm trong mối quan hệ với chính bản thân chủ thể. Khả năng đồng hóa này khiến trẻ có thể giao cảm với thế giới con người, tự nhiên trong tác phẩm nghệ thuật từ đó, trẻ thể hiện sự cảm nhận của mình bằng các cảm xúc tích cực: chú ý lắng nghe, ngắm nhìn, vui sướng, vỗ tay, dùng những từ gợi cảm hoặc bằng những cảm xúc tiêu cực như sợ hãi, tức giận, chê bai. Ở lứa tuổi này cùng với sự hoàn thiện của các giác quan thì hoạt động cảm nhận của trẻ tiếp tục được hoàn thiện, độ nhạy cảm của các giác quan được nâng cao, việc phân tích các thuộc tính của sự vật hiện tượng xung quanh hiệu quả hơn trước. Hệ thống tín hiệu thứ hai tham gia tích cực hơn vào quá trình phân tích làm cho cảm giác trở nên chính xác, cụ thể hơn và đồng thời làm cho cảm giác có tính “tự giác”.
Cùng với cảm giác, tri giác của trẻ cũng phát triển mạnh. Chính độ nhạy cảm cao của các giác quan, cũng như sự phối hợp hoạt động hài hòa, linh hoạt, mềm dẻo của chúng giúp cho các quá trình nhận thức của trẻ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả. Trẻ 5-6 tuổi luôn thích khám phá, tò mò, thích quan sát, tìm hiểu thế giới xung quanh và đặc biệt hứng thú với những điều mới lạ. Đây là một điều kiện thuận lợi để các nhà giáo dục thực hiện nhiệm vụ giáo dục nhận thức cho trẻ.Đaparôjet (1977) quan niệm rằng “Khả năng chú ý ở trẻ 5-6 tuổi có thể kéo dài từ 35-50 phút nếu đối tượng đó hấp dẫn, có nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ” [1, tr.
74] Nguyễn Ánh Tuyết (2014) cho rằng nhiều phẩm chất chú ý của trẻ 5 - 6 tuổi đã được phát triển, trẻ biết hướng ý thức của mình vào các đối tượng cần cho vui chơi, học tập hoặc lao động tự phục vụ. Trẻ có thể phân phối được chú ý vào 2,3 đối 13 Luan van tượng cùng một lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động [24]. Ở lứa tuổi mẫu giáo, chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế và đặc điểm này còn kéo dài tới tuổi mẫu giáo 5 - 6 tuổi. Trẻ thường chú ý tới những đối tượng khi đối tượng đó gây ra một kích thích mạnh, hoặc một sự ngạc nhiên, nhất là tạo cho trẻ một sự hứng thú.
Với sự phát triển của tính chủ định và ý thức thì khả năng chú ý của trẻ 5 - 6 tuổi đã có sự thay đổi cơ bản: trẻ bắt đầu điều khiển chú ý của mình vào những đối tượng nhất định, tức chú ý có chủ định dần hình thành và phát triển mạnh. Chú ý có chủ định được phát triển trong quá trình giáo dục. Nó được hình thành và phát triển mạnh với những loại kích thích mới, một trong số đó là kích thích bởi ngôn ngữ nói tác động từ bên ngoài. Trẻ 5-6 tuổi đặc biệt nhạy cảm với ngôn ngữ nói.
Trẻ hướng sự chú ý của mình tới những đặc điểm của lời nói như giọng điệu, ngữ điệu, cách phát âm. Giọng điệu có ý nghĩa kích thích sự chú ý ở độ chính xác, tỉ mỉ. Trẻ nhận ra được thái độ, tình cảm (thiện cảm, thân thương, trìu mến hay thờ ơ, lạnh lùng, bực bội.) của người lớn, bạn bè xung quanh. Bởi vậy, việc rèn luyện chú ý có chủ định giúp trẻ chú ý vào những vấn đề trẻ không thật sự hứng thú sẽ rất cần thiết cho sự tiếp thu kiến thức của trẻ.
Nếu không chú ý có chủ định, trẻ sẽ không đặt cho mình nhiệm vụ chú ý cụ thể, sự nhận thức sẽ phân tán, trẻ không thể tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống, đầy đủ. Trong hoạt động học tập, để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức, chú ý có chủ định giúp trẻ phát hiện nhanh vấn đề, từ đó kích thích hứng thú nhận thức của trẻ phát triển. Ngôn ngữ Ngôn ngữ của trẻ phát triển với một tốc độ rất nhanh cả về số lượng và chất lượng trong thời kỳ trẻ học mẫu giáo. Với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, Nguyễn Ánh Tuyết (2014) yêu cầu trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ theo hướng phải nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ, vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển.
Trẻ tích lũy được hàng nghìn từ tích cực không những chỉ về danh từ, động từ mà 14 Luan van cả các đại từ, tính từ và quan hệ từ. Trẻ đã có kỹ năng kết hợp các từ trong hầu hết các mẫu câu theo quy tắc ngữ pháp tiếng mẹ đẻ. Trẻ 5-6 tuổi đã bắt đầu hiểu nghĩa của các từ, biết sử dụng tiếng mẹ đẻ để diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ và từng bước thể hiện các sắc thái xúc cảm phù hợp trong lời nói. Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp và các tính chất của ngôn ngữ ở trẻ phụ thuộc phần lớn vào việc hướng dẫn và sự gương mẫu về lời nói của người lớn [24].
Trẻ 5-6 tuổi có nhu cầu hiểu biết nên thường hay đặt câu hỏi “Vì sao?” và mong muốn người lớn giải thích. Mặt khác, trẻ cũng có nhu cầu giải thích cho người lớn và các bạn cùng tuổi hiểu được những ý nghĩ của mình. Bên cạnh đó khả năng giải thích bằng ngôn ngữ cũng đang được phát triển trong độ tuổi này. Kiểu ngôn ngữ này đòi hỏi trẻ phải trình bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định, phải nêu bật những điểm chủ yếu và những mối quan hệ, liên hệ giữa các sự vật hiện tượng một cách hợp lý để người nghe có thể hiểu và chấp nhận.
Như vậy, có thể nói rằng, ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 5-6 tuổi thể hiện trình độ phát triển tương đối cao không những về phương diện ngôn ngữ mà cả về phương diện tư duy. Muốn cho ngôn ngữ được mạch lạc thì những điều trẻ định nói cần phải được rõ ràng ngay từ trong đầu, tức là cần có tư duy hỗ trợ. Trí nhớ John W. Santrock (2011) cho biết trí nhớ của trẻ được cải thiện đáng kể sau 2 tuổi.
Đôi khi trí nhớ dài hạn của trẻ lứa tuổi mầm non có vẻ không ổn định, nhưng chúng có thể nhớ được rất nhiều thông tin nếu được gợi nhắc phù hợp [32]. Với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, trí nhớ phát triển mạnh song chủ yếu vẫn là trí nhớ không chủ định. Trẻ thường ghi nhớ chủ yếu những gì gây hứng thú hoặc gây ấn tượng mạnh cho trẻ. Do đó, những sự vật hiện tượng nào gây chú ý cho trẻ nhiều hơn, trẻ tập trung chú ý quan sát, lắng nghe giải thích thì trẻ sẽ ghi nhớ cái đó kỹ hơn.
Tuy nhiên trí nhớ của trẻ 5-6 tuổi vẫn đặc trưng bởi đặc điểm trí nhớ trực quan hành động. Vì thế giáo viên mầm non cần phải dùng nhiều loại học cụ trực quan, 15 Luan van cho trẻ hành động với đồ vật, tổ chức quá trình ghi nhớ cho trẻ khoa học hơn để trẻ ghi nhớ tốt hơn. Ngoài ra trẻ 5 - 6 tuổi cũng bắt đầu hình thành trí nhớ logic. Trẻ ghi nhớ cái gì đó có ý nghĩa tốt hơn những cái không có ý nghĩa và vì thế trẻ ở lứa tuổi này không phải chỉ có ghi nhớ máy móc mà còn có khả năng ghi nhớ ý nghĩa.
Đến giai đoạn này thì trí nhớ có chủ định được phát triển trên nền tảng vững chắc hơn. Từ chỗ trẻ chưa biết đặt một nhiệm vụ ghi nhớ nào cả, dần chuyển sang ghi nhớ có chủ định, có mục đích. Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, sự nhận thức của trẻ có rất nhiều thay đổi. Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân (2016) cho rằng ở lứa tuổi này, trẻ đã tương đối biết nhiều về bản thân, biết điều khiển những cảm xúc và hành vi, điều đó tạo điều kiện cho sự chủ động của hành vi.