CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC GIỚI CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Một số vấn đề cơ bản về giới 1. Giới và giới tính 1. Khái niệm về giới Giới là thuật ngữ dùng để “chỉ vị trí, vai trò và đặc điểm tâm sinh lí của nam giới và nữ giới trong tất cả các mối quan hệ xã hội hiện nay” [17].
Hay theo cách hiểu khác “giới là một khái niệm văn hóa và xã hội được xây dựng lên nhằm xác định và phân biệt các đặc điểm về vai trò và trách nhiệm khác nhau của nam giới và nữ giới”. Ví dụ: Người ta thường cho rằng nam giới mạnh mẽ, quyết đoán, nên làm các công việc nặng như cày bừa, xây dựng, cầu đường, khai thác hầm mỏ,.Nữ giới dịu dàng, cẩn thận, chịu khó; nên làm các công việc nhẹ nhàng như nội trợ, giáo viên, cấy gặt, thư ký,. Tuy nhiên, thực tế có nhiều nữ giới mạnh mẽ và quyết đoán; tương tự có nhiều nam giới dịu dàng, cẩn thận và chịu khó. Quá trình xã hội hóa giới diễn ra liên tục, dần dần đã hình thành hai khuôn mẫu về người nam giới và người nữ giới với những chuẩn mực về giá trị và vai trò giới khác nhau trong gia đình và xã hội.
Do vậy, ngay từ khi sinh ra và trong suốt quá trình lớn lên, thông qua sự giáo dục và trải nghiệm xã hội, những cô bé và cậu bé thường phải nhập tâm những quan niệm và học hỏi theo những khuôn mẫu mong đợi của xã hội về đặc điểm và vai trò giới của mình. Như ở Việt Nam, trong phần lớn các gia đình đều cho rằng con trai sẽ là trụ cột của gia đình. Nam giới sẽ được quyền đưa ra các quyết định quan trọng của gia đình. Từ đó hình thành cho nam giới những tính cách đặc trưng như quyết đoán, tự lập và rất mạnh mẽ, độc lập.
Nam giới cũng sẽ thường xuyên gánh vác những công việc lao động nặng nhọc của cuộc sống. Ngược lại với nam giới, nữ giới lại được cho rằng là phái yếu sẽ phù hợp với những việc nhẹ nhàng và được định hướng đến các công việc mang tính cẩn thận, chịu khó, biết nhẫn nhịn; được hướng dẫn làm các “công việc nhẹ” như nội trợ, may vá, thêu thùa,….Người nữ 10 giới sẽ không có nhiều quyền lợi và tiếng nói trong gia đình. Chính vì thế, quá trình xã hội hóa khiến trẻ em trai và trẻ em gái luôn luôn phải học hỏi, tự điều chỉnh, uốn nắn và rèn luyện để trở thành “mẫu hình”,“khuôn mẫu” của người đàn ông và người đàn bà mà xã hội hay cộng đồng đó mong đợi. Như vậy, các đặc điểm về giới không tự nhiên mà có, nó được sinh ra qua quá trình giáo dục từ gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội, qua sự ảnh hưởng của truyền thông, các thể chế xã hội… Giới xác định ranh giới về những điều nữ giới và nam giới phải là người như thế nào và họ nên phải làm gì.
Giới đưa ra các chuẩn mực hành vi đạo đức, tập tục và các quy tắc nhất định với các nam giới và nữ giới. Qua đó, hình thành vai trò và quyết định hành vi trông đợi và các quyền của nữ giới và nam giới. [27] Nhìn chung có thể hiểu giới chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về quyền lực, trách nhiệm, nguyên tắc ứng xử, hành vi và vai trò nhất định. Những sự khác biệt về giới được hình thành qua giáo dục và học hỏi dựa trên quan niệm, niềm tin chủ quan của một nền văn hóa hay tập tục xã hội cụ thể.
Sự khác biệt về giới ở những nền văn hóa khác nhau là khác nhau, sự khác biệt này có thể thay đổi theo không gian và thời gian. Khái niệm giới tính Khái niệm giới tính được tiếp cận từ nhiều ngành khoa học khác nhau. Trong sinh vật học cho rằng giới tính là một thuật ngữ dùng để chỉ sự khác nhau về mặt sinh học giữa nữ giới và nam giới. Trong quyển Luật Bình đẳng giới được xuất bản năm 2006 đã định nghĩa giới tính nhau sau: “Giới tính dùng để chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ” [17].
Sự khác nhau của nam và nữ thể hiện qua các đặc điểm sinh học như: cấu tạo cơ thể, chức năng sinh sản hay đặc điểm về tâm sinh lý qua từng giai đoạn phát triển. Có thể nói sự khác nhau rõ ràng nhất được thể hiện qua khả năng sinh sản [28, tr. Ví dụ: Cấu tạo cơ thể nữ giới có tử cung, buồng trứng. Nữ giới xuất hiện kinh nguyệt và có thể mang thai, sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ.
Nam giới có dương vật, tinh hoàn, có thể sản sinh tinh trùng để thụ thai. Tuy nhiên, khái niệm trên chưa 11 chỉ ra đầy đủ các khía cạnh, dấu hiệu của giới tính. “Giới tính là định nghĩa nhằm chỉ những đặc điểm sinh lý, đặc điểm sinh học, để xác định một cách rõ ràng nhất cá thể là nam, nữ hoặc xác định liên giới tính của người đó” [17, tr. Có thể nói “giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, cũng như các đặc tính sinh học phân biệt nam và nữ.
Do đó, khi xác định một người có thể là nam giới hoặc nữ giới chúng ta bất kể họ thuộc chủng tộc, tầng lớp, tuổi tác hoặc sắc tộc nào” [30]. Phân biệt giới và giới tính Giới và giới tính là hai khái niệm độc lập với nhau. Giới tính là sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ, những khác biệt này mang tính bẩm sinh và phổ biến chung trên toàn cầu; còn giới được sử dụng để xác định các đặc tính về mặt xã hội của một người là nam hay nữ, những đặc tính giới này do học hỏi mà có, nên rất đa dạng và có thể thay đổi theo thời gian và không gian. Chúng ta có thể phân biệt đặc điểm khác nhau giữa giới tính và giới theo bảng 1 dưới đây: Bảng 1.
Sự khác biệt giữa hai khái niệm giới và giới tính Giới tính Giới - Là đặc trưng sinh học; bẩm sinh, sinh ra đã - Là đặc trưng văn hóa, xã hội; có. do học hỏi mà có. Ngay từ khi còn trong bào thai, đã đã xác Giới là đặc điểm do xã hội tạo ra, định được giới tính của con người nhờ vào nó quy định cách nghĩ, cách ứng hệ nhiễm sắc thể. Đó chính là dấu hiệu đặc xử với nhau của các thành viên trưng sinh học của con người.
Ví dụ: Nam có tinh hoàn, tinh trùng, nữ có Ví dụ: Quan niệm cho rằng nam thể buồng trứng, dạ con. Nam có hormon giới là người chủ trong gia đình, sinh dục là testoterone còn nữ có hormon có toàn quyền quyết định các sinh dục là estrogen và progesteron. việc quan trọng trong cuộc sống. Còn nữ giới không có nhiều quyền trong gia đình, họ thường chăm sóc gia đình và làm các 12 công việc nội trợ.
- Mọi nam giới và nữ giới có cấu tạo sinh - Đa dạng, khác nhau ở các quốc học giống nhau và đều luôn đồng nhất, gia, vùng, miền và giữa các nền giống nhau trong cùng một giới. Chính vì vậy nó tạo ra sự khác biệt về giới ở các địa phương, dân tộc khác nhau. Ví dụ: Ở mọi nơi, nữ giới có khả năng sinh Ví dụ: Ở nhiều nơi, nam giới làm con nhờ buồng trứng, tử cung. Nam giới đều giáo viên mẫu giáo hay nhà thiết có khả năng duy trì giống nòi do có tinh kế thời trang giỏi; nhiều nữ giới hoàn.
cũng mạnh mẽ, quyết đoán hay là nhà kinh doanh giỏi. - Cả nam giới và nữ giới không thay đổi về - Có thể thay đổi theo quá trình đặc điểm liên quan đến chức năng sinh sản phát triển dưới tác động của các theo không gian và thời gian. yếu tố văn hóa, xã hội. Ví dụ: Nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật, Ví dụ: Trước đây nữ giới không một số đặc điểm giới tính có thể thay đổi hoặc ít được tham gia quản lý xã được, tuy nhiên, qua nhiều thế hệ, nam giới hội; ngày nay, nhiều nữ giới là không thể mang thai, sinh con và nữ giới tổng thống, thủ tướng.
Trước đây không thể cung cấp tinh trùng cho quá trình nam giới không hoặc ít làm việc ấy. nhà; ngày nay, nhiều nam giới làm nội trợ và chăm sóc con cái. Tóm lại, con người khi sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính; những đặc điểm này hầu như không thay đổi trong suốt cuộc đời và cũng không thể hoán đổi giữa nam và nữ. Còn đặc điểm về giới không phải là bất biến mà thay đổi theo thời gian, thay đổi giữa các nền văn hoá khác nhau hoặc trong cùng nền văn hoá, tùy thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế-xã hội và các yếu tố khác.
Phân biệt sự khác nhau giữa giới tính và giới, giúp chúng ta thấy rõ nguyên nhân của bất bình đẳng về giới là do khác biệt giới tạo nên. Vì thế, chúng ta có thể tác động để thay đổi các đặc điểm và mối quan hệ giới theo chiều hướng tiến bộ và 13 bình đẳng. Khuôn mẫu giới và vai trò giới 1. Vai trò giới Vai trò giới là những hoạt động mà nữ giới và nam giới được kỳ vọng thực hiện trong gia đình hay cộng đồng giới [26; tr.
Vai trò giới là do xã hội phân công, ví dụ như làm giáo viên, nông dân, lái xe, bác sỹ, y tá, thư ký, bố, mẹ, vợ hoặc chồng. Người ta thường nhóm các vai trò giới thành 3 loại sau: − Vai trò sản xuất: Vai trò giới được thể hiện qua việc tiến hành các hoạt động lao động sản xuất, tạo ra của cải góp phần phát triển kinh tế của gia đình như: dạy học, sản xuất nông nghiệp, may vá,… − Vai trò gia đình: Vai trò giới được thể hiện thông qua vị trí, nhiệm vụ và vai trò của nam giới hay nữ giới trong việc chăm sóc gia đinh, duy trì nòi giống như: phụ nữ sẽ sinh con, nuôi dạy con cái,…. − Vai trò cộng đồng: Vai trò giới thể hiện trong xã hội với mọi người sống xung quanh. Ví dụ: tham gia các đoàn thể xã phường, tổ dân phố, các câu lạc bộ, nhóm, các lễ hội văn hóa văn nghệ tại địa phương,… Cả ba vai trò này nam giới và nữ đều cần thực hiện.
Hiện nay, thực tế cho thấy có sự chênh lệch khác biệt giữa nam giới và nữ giới. Nam giới được mong đợi giữ nhiều vai trò xã hội hơn nữ giới. Ngược lại, nữ giới sẽ giữ vai trò gia đình hơn nam giới.