Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Những nghiên cứu trên thế giới *Nghiên cứu về năng lực tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên Công trình nghiên cứu gần đây của các nhà giáo dục Mĩ cho thấy tác dụng to lớn của các hoạt động ngoài giờ lên lớp nói chung và ngoại khoá nói riêng sau đây đối với đời sống của học sinh: có 49% học sinh không tham gia vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp sử dụng ma tuý, 37% trong độ tuổi từ 13- 19 phải làm bố mẹ sớm hơn những em khác có tham gia từ 1đến 4 giờ vào các hoạt động ngoại khoá. 8/10 em có tham gia các hoạt động ngoại khoá đạt được kết quả học tập cao.
Những học sinh thường xuyên tham gia vào các chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp có chất lượng thường đạt được thành tích học tập cao hơn, có hành vi đạo đức tốt hơn trong nhà trường, có mối quan hệ và xúc cảm tốt hơn, phát triển tốt hơn và không có các hiện tượng sử dụng ma tuý, bạo lực. Các nhà giáo dục Nhật Bản nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động ngoại khoá. Học sinh Nhật Bản dành khá nhiều thời gian cho các hoạt động này vì hầu hết các trường học ở Nhật Bản là các trường bán trú. Tuy nhiên, các hoạt động ngoài giờ lên lớp này tập trung chủ yếu vào việc giáo dục đạo đức và giáo dục truyền thống cho học sinh như dạy các nghi thức giao tiếp theo tập tục của người Nhật, dạy cách pha trà, nấu nướng, các nghề truyền thống của Nhật Bản.
Ngoại khoá các môn học chủ yếu tổ chức qua các cuộc thi, các trò chơi ở trường và trên ti vi. Từ thực tiễn trải nghiệm, nhà sư phạm J. Cômen xki kết luận: “Công việc ngoại khoá nếu được tiến hành có hệ thống không những nâng cao trình độ chung về sự tiến bộ của học sinh mà còn cả về trình độ ngôn ngữ, kiến thức của các em” (dẫn theo [22]).Rassekh (1987) đã viết: “Với sự tham gia tích cực của người học vào quá trình học tập chủ động, với sự đề cao nhất trí sáng tạo của mỗi học sinh, thì sẽ không còn mối quan hệ đơn phương và độc đoán giữa thầy và trò. Quyền lực của giáo viên không còn ngự trị trên sự thụ động và kém tri thức của học sinh.
Giá trị của người giáo viên được tôn trọng bằng chính năng lực của giáo viên góp phần tối đa vào sự phát triển của học sinh… Một giáo viên sáng tạo là một giáo viên biết giúp học sinh tiến bộ nhanh chóng bằng con đường tự học. Giáo viên phải là người hướng dẫn, người cố vấn, hơn là chỉ đóng vai trò công cụ truyền đạt tri thức”. Như vậy tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò năng lực của người giáo viên, người mà sẽ phát triển được năng lực “tột đỉnh” cho học sinh [31]. Đến 1997, Shirley Fletcher cho ra đời tiếp tài liệu “Thiết kế đào tạo dựa trên năng lực thực hiện” [33], trong đó đề cập các cơ sở khoa học của việc thiết lập các tiêu chuẩn đào tạo, các kỹ thuật phân tích nhu cầu người học và phân tích công việc, xây dựng mô đun dạy học và khung chương trình.
Tác giả đã đưa ra việc cần thiết phải thiết kế, xây dựng và phát triển năng lực thực hiện của người giáo viên. * Nghiên cứu về phát triển năng lực tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên Ở Australia, vào cuối thập kỷ 80 đã bắt đầu một cuộc cải cách trong đào tạo nghề, thiết lập một hệ thống đào tạo dựa trên NL, tạo ra phương pháp PTNL cho việc công nhận các kỹ năng của người nhập cư, thành lập hội đồng đào tạo để xúc tiến việc xây dựng tiêu chuẩn NL trong toàn quốc (dẫn theo [19]). Công trình của Thomas Olsson, Katarina Martensson, Torgny Roxa trên cơ sở mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kolb, kết hợp với ý tưởng phát triển kỹ năng dạy học của Thomas Olsson đã đưa ra các kỹ năng dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học [34]. Orstein (2001), đã đưa ra chương trình đào tạo nhà lãnh đạo trường học theo các nhóm năng lực: a) Năng lực sư phạm, 7 giáo dục và thiết lập; b) Năng lực kiểm soát; c) Năng lực định hướng/tầm nhìn; d) Năng lực tổ chức; g) Năng lực tư vấn.
Chuẩn chương trình đào tạo cán bộ quản lý giáo dục trường học cung cấp cho những người chuẩn bị làm lãnh đạo trường học các năng lực lãnh đạo và quản lý nhà trường (dẫn theo [19]). Schmuck và các tác giả khác vào năm 1997 đã đưa ra Lý thuyết quản lý sự thay đổi dựa trên cách tiếp cận “phát triển tổ chức” để tạo ra bước đột phá trong việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trong việc cải thiện hệ thống, tập trung vào thay đổi các quy trình chính thức và không chính thức, thay đổi các tiến trình, chuẩn mực và cơ cấu (dẫn theo [22]). Cộng hòa Ghana (Republic of Ghana) là một quốc gia tại 32 Tây Phi cũng có những nghiên cứu về phát triển NL cho giáo viên. Theo các tác giả Boahin, Peter Hofman, WH Adriaan, một số chương trình đào tạo PTNL cho giáo viên ở Ghana đã được công nhận và đảm bảo chất lượng.
Trong bài viết, các tác giả đã đề cập đến việc tìm hiểu nhận thức, nhu cầu của giáo viên về PTNL và kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến việc PTNL cho giáo viên. Ở nhiều nước châu Á như Singapore, Ấn Độ, Phillipin, Brunei, Malayxia, Hàn Quốc, Nhật Bản,. phát triển năng lực cho GV đang được vận dụng ở nhiều mức độ khác nhau. Các bộ chương trình, hoạt động giáo dục đều được dựa trên năng lực của giáo viên như: năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng lực xã hội, năng lực hành động,.
Để phát triển năng lực tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên cần tập trung vào việc thay đổi yêu cầu đối với giáo viên (ví dụ: chuẩn nghề nghiệp giáo viên) và đo lường hiệu quả của giáo viên bằng cách sử dụng khung đánh giá chuẩn năng lực giáo viên và hiệu suất của học sinh trong các bài kiểm tra tiêu chuẩn. Phương pháp này có thể giúp đánh giá các năng lực tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên, đồng thời hỗ trợ sự phát triển liên tục của các giáo viên này và tận dụng được năng lực hiện của giáo viên [36]. 8 Có thể nói các công trình trên đã cung cấp một cái nhìn khái quát về khái niệm của năng lực, vai trò của năng lực, nhu cầu và thực trạng phát triển năng lực của giáo viên…Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề cụ thể về phát triển năng lực hoạt động trải nghiệm cho giáo viên. Các nghiên cứu ở trong nước * Nghiên cứu về năng lực tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên Việt Nam đang đẩy mạnh công tác đổi mới giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, trong đó đổi mới nhấn mạnh vai trò trọng tâm đó là phát triển năng lực giáo viên, cụ thể ngày 11/01/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QL GD giai đoạn 2005 - 2010”.
Mục tiêu tổng quát của Đề án là: "Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QL GD theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp GD trong công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước” [8]. Tác giả Lê Văn Hồng (1975) có công trình nghiên cứu “Một số vấn đề về năng lực sư phạm của người GV xã hội chủ nghĩa” [12] đã đề cập đến các năng lực sư phạm cần có của người giáo viên xã hội chủ nghĩa. Tác giả nhấn mạnh muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì phải nâng cao năng lực của giáo viên. Cục Đào tạo - Bồi dưỡng giáo viên của Bộ Giáo dục năm 1982 đã ban hành tài liệu “Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho SV các trường sư phạm”.
Đây là tài liệu hướng dẫn rèn luyện nghiệp vụ sư phạm có tính chất chỉ đạo nhằm đưa dần việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thành một bộ phận quan trọng trong chương trình, kế hoạch đào tạo của giáo viên. Từ đó nâng cao năng lực dạy học của giáo viên [6]. 9 Trong tài liệu Tâm lý học của Phạm Minh Hạc chủ biên, trong phần “Nhân cách người thầy giáo và năng lực sư phạm” có viết: “Nhân cách nhà giáo nói chung và năng lực sư phạm nói riêng không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của một quá trình đào tạo và tự đào tạo một cách nghiêm túc” [11].
Tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ giữa năng lực và tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Theo ông: tri thức, kĩ năng, kĩ xảo là chất liệu để tạo thành năng lực tương ứng. Không có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thì không có năng lực, tuy chúng không đồng nhất với nhau [11] Trong bài viết “Năng lực và giáo dục theo tiếp cận năng lực”, Tạp chí Quản lý Giáo dục, số 43 tháng 12/2012, tác giả Đặng Thành Hưng đã đưa ra và phân tích khái niệm năng lực, phân tích cấu trúc và thành phần của năng lực bao gồm ba dạng năng lực chính: Năng lực hiểu, năng lực làm và năng lực cảm. Từ ba dạng năng lực này chia ra 7 lĩnh vực năng lực: 1) Năng lực Toán và Logic; 2) Năng lực ngôn ngữ; 3) Năng lực khoa học; 4) Năng lực nghệ thuật; 5) Năng lực thể chất; 6) Năng lực công nghệ; 7) Năng lực công dân.
Từ đó, tác giả khẳng định, tiếp cận năng lực tạo ra nhiều thuận lợi để phát triển chuẩn học tập và chương trình giáo dục [14]. Trong “Kỷ yếu hội thảo hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh phổ thông và mô hình trường phổ thông gắn với sản xuất, kinh doanh tại địa phương” của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), các nhà khoa học đã đưa ra quan điểm nhiều chiều về khái niệm, tính chất, nội dung, hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng dẫn thực hiện và đánh giá về hoạt động trải nghiệm (dẫn theo [22]).