Luận văn thạc sĩ: Phát triển năng lực sư phạm giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7 hiện nay

Phát triển năng lực sư phạm giáo viên quân sự Quân khu 7 thông qua các phương pháp đào tạo hiện đại, nâng cao chất lượng giảng dạy và kỹ năng quản lý lớp học.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
147
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển năng lực sư phạm của giáo viên trường quân sự Quân khu 7

Phát triển năng lực sư phạm là quá trình gia tăng về chất lượng và số lượng kiến thức, thái độ, kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên. Quá trình này đảm bảo hoạt động sư phạm đạt hiệu quả cao trong môi trường đào tạo quân sự. Giáo viên trường quân sự Quân khu 7 có đặc thù riêng biệt so với giáo viên dân sự. Hoạt động sư phạm tại đây gắn liền với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Năng lực sư phạm bao gồm nhiều thành phần cấu thành. Đó là năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn, năng lực giáo dục và năng lực nghiên cứu khoa học. Sự phát triển năng lực sư phạm diễn ra liên tục, đòi hỏi sự tích cực hóa hoạt động cá nhân dưới ảnh hưởng của môi trường xã hội. Quá trình này cần có phương pháp phù hợp với đặc điểm tâm lý, nghề nghiệp của từng giáo viên.

1.1. Khái niệm phát triển năng lực sư phạm trong đào tạo quân sự

Phát triển năng lực sư phạm được hiểu là sự thay đổi về cấu trúc và phương thức phản ánh trong quá trình tâm lý. Theo tâm lý học Mác-xít, đây là sự phát triển ngày càng phức tạp từ mức độ thấp đến cao. Quá trình này phù hợp với những đòi hỏi ngày càng tăng của xã hội. Hoạt động tích cực của con người dưới ảnh hưởng môi trường xã hội và giáo dục có ý nghĩa quyết định. Đối với giáo viên trường quân sự, năng lực sư phạm cần đạt chuẩn theo từng cấp học, trình độ đào tạo. Đảng ta xác định đây là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

1.2. Vai trò của giáo viên trong nhà trường quân sự Quân khu 7

Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường quân sự. Đội ngũ giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của sự nghiệp đào tạo sĩ quan. Nhà trường quân sự cần xây dựng đội ngũ nhà giáo có năng lực tổng hợp, khái quát hóa cao. Tư duy sư phạm phát triển cùng hệ thống phẩm chất đạo đức là yêu cầu bắt buộc. Giáo viên phải đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp sư phạm đặc thù của môi trường quân đội. Chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học phụ thuộc lớn vào trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ giáo viên. Sự phát triển năng lực sư phạm giúp giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục, đào tạo cán bộ quân sự.

II. Phân tích thực trạng năng lực sư phạm của giáo viên trường quân sự Quân khu 7

Những năm qua, chất lượng đội ngũ giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7 từng bước được nâng cao. Một số giáo viên có sự phát triển khá tốt về kỹ năng và tay nghề sư phạm. Tuy nhiên, thực trạng vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục. Một bộ phận giáo viên có trình độ kiến thức và phương pháp sư phạm còn hạn chế. Họ thiếu linh hoạt trong tổ chức hoạt động thực tiễn sư phạm. Chất lượng chuyên môn giảng dạy chưa cao, kỹ năng thực hành huấn luyện chưa đáp ứng yêu cầu. Nghi cứu sử dụng phương pháp chuyên gia, phỏng vấn và quan sát trực tiếp hoạt động giảng dạy. Khảo sát tiến hành với 35 cán bộ khoa, bộ môn và 45 học viên cao đẳng quân sự địa phương. Kết quả cho thấy nhiều vấn đề cần giải quyết để nâng cao chất lượng đào tạo.

2.1. Điểm mạnh trong năng lực sư phạm hiện tại

Đội ngũ giáo viên Trường Quân sự Quân khu 7 có nhiều điểm mạnh đáng ghi nhận. Nhiều giáo viên nỗ lực phấn đấu nâng cao phẩm chất và năng lực sư phạm. Chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học ngày càng phát triển theo hướng tích cực. Giáo viên mới được hướng dẫn, bồi dưỡng qua việc thông qua bài giảng có kinh nghiệm. Hoạt động nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị giáo án được thực hiện nghiêm túc. Ban lãnh đạo nhà trường ban hành nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo rõ ràng. Các báo cáo tổng kết qua các năm từ 2012-2017 cho thấy sự tiến bộ trong nhiều mặt công tác.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân của thực trạng năng lực sư phạm

Nhiều giáo viên chưa thực sự ngang tầm với nhiệm vụ giáo dục đào tạo giai đoạn mới. Phương pháp sư phạm thiếu tính sáng tạo, chủ yếu dựa vào truyền thống. Kỹ năng thực hành huấn luyện, giáo dục còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu nhà trường quân sự. Nguyên nhân xuất phát từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn hạn chế. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên chưa thường xuyên, liên tục. Một số giáo viên thiếu động lực tự học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ. Môi trường quân sự đặt ra yêu cầu cao về kỷ luật, tác phong nhưng chưa có biện pháp phát triển năng lực phù hợp.

III. Giải pháp tâm lí sư phạm phát triển năng lực sư phạm cho giáo viên

Phát triển năng lực sư phạm đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện. Giải pháp tâm lí - sư phạm được xem là then chốt trong quá trình này. Hoạt động tích cực hóa cá nhân có ý nghĩa quyết định đối với sự tăng lên về chất lượng phẩm chất tâm lý. Giáo dục và môi trường xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển năng lực. Giải pháp cần hướng đến việc chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo. Quá trình bồi dưỡng phải thường xuyên, liên tục, gắn với thực tiễn giảng dạy. Mỗi giáo viên cần được đánh giá năng lực qua nhiều phương pháp khoa học. Kết hợp giữa đào tạo tập trung và tự nghiên cứu, học tập tại đơn vị. Giải pháp phải phù hợp với đặc thù hoạt động sư phạm trong môi trường quân sự Quân khu 7.

3.1. Biện pháp bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng sư phạm

Biện pháp bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cần được thực hiện thường xuyên, liên tục. Nhà trường tổ chức các lớp tập huấn phương pháp giảng dạy hiện đại cho giáo viên. Giáo viên được tham gia các khóa đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn tại các viện, trường trong và ngoài quân đội. Hoạt động dự giờ, rút kinh nghiệm giữa các giáo viên được đẩy mạnh. Giáo viên mới được giao kèm cặp bởi giáo viên có nhiều kinh nghiệm giảng dạy. Chương trình bồi dưỡng phải cập nhật nội dung mới, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Kỹ năng tổ chức hoạt động thực tiễn sư phạm được rèn luyện qua các buổi thực hành, mô phỏng tình huống giảng dạy thực tế.

3.2. Biện pháp nâng cao động lực và thái độ nghề nghiệp

Động lực nghề nghiệp là yếu tố quan trọng thúc đẩy giáo viên tự phát triển năng lực. Nhà trường cần xây dựng hệ thống đánh giá, khen thưởng minh bạch, công bằng. Giáo viên đạt kết quả cao trong giảng dạy được ghi nhận, biểu dương kịp thời. Môi trường làm việc chuyên nghiệp, đoàn kết tạo điều kiện cho giáo viên phát huy năng lực. Hoạt động nghiên cứu khoa học được khuyến khích, hỗ trợ về thời gian và kinh phí. Giáo viên được tạo điều kiện tham gia các hội thảo, hội nghị chuyên môn sư phạm. Việc xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân giúp giáo viên xác định mục tiêu phấn đấu rõ ràng. Chế độ đãi ngộ phù hợp giúp giáo viên yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với nhà trường.

IV. Kết luận về phát triển năng lực sư phạm trong đào tạo quân sự Quân khu 7

Nghiên cứu đã làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực trạng phát triển năng lực sư phạm tại Trường Quân sự Quân khu 7. Kết quả nghiên cứu cho thấy đội ngũ giáo viên có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn hạn chế. Hệ thống giải pháp tâm lí - sư phạm được đề xuất mang tính khả thi cao. Giải pháp tập trung vào hai nhóm biện pháp chính: bồi dưỡng kiến thức kỹ năng và nâng cao động lực nghề nghiệp. Phát triển năng lực sư phạm là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thống. Đảng ta khẳng định đổi mới giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà trường quân sự cần tiếp tục đầu tư nguồn lực cho công tác bồi dưỡng giáo viên. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện lí luận về phát triển năng lực sư phạm trong môi trường đào tạo quân sự.

4.1. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu có ý nghĩa lí luận trong việc hệ thống hóa cơ sở khoa học về phát triển năng lực sư phạm. Kết quả nghiên cứu bổ sung vào kho tàng lí luận về đào tạo giáo viên trong nhà trường quân sự. Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp cơ sở đánh giá chính xác thực trạng năng lực sư phạm. Hệ thống giải pháp đề xuất giúp Ban lãnh đạo nhà trường có định hướng bồi dưỡng giáo viên. Nghi cứu cũng là tài liệu tham khảo cho các nhà trường quân sự khác trong toàn quân. Phương pháp nghiên cứu được áp dụng có thể nhân rộng cho các đề tài tương tự. Kết quả đóng góp vào sự nghiệp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo quân sự tại Quân khu 7.

4.2. Kiến nghị và hướng phát triển đề tài

Nghiên cứu kiến nghị Ban lãnh đạo Trường Quân sự Quân khu 7 triển khai đồng bộ các giải pháp đề xuất. Cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên hàng năm với nội dung, hình thức đa dạng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cần được đầu tư hiện đại hóa. Chế độ đãi ngộ đối với giáo viên cần được quan tâm, cải thiện phù hợp. Hướng phát triển đề tài có thể mở rộng nghiên cứu đến các nhà trường quân sự khác trong toàn quân. Nghiên cứu so sánh năng lực sư phạm giữa các đơn vị giúp rút ra bài học kinh nghiệm. Các đề tài tiếp theo nên tập trung đánh giá hiệu quả của các giải pháp sau khi triển khai thực tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực sư phạm của giáo viên trường quân sự quân khu 7 hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 7 1. Các khái niệm cơ bản 1. Năng lực sư phạm của giáo viên * Năng lực Năng lực là một thuộc tính tâm lý quan trọng trong cấu trúc nhân cách, nghiên cứu năng lực trong tâm lý học có nhiều cách tiếp cận khác nhau, theo đó các tác giả cũng đưa ra nhiều quan niệm khác nhau, cụ thể: Tiếp cận năng lực là một tổ hợp những thuộc tính nói chung của cá nhân để hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó, Côvaliôp.G cho rằng: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được kết quả cao” [5, tr. Theo ông, năng lực cần được hiểu như là một tổ hợp của các thuộc tính cá nhân cần thiết cho việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định.

Các thuộc tính đó không tồn tại độc lập bên cạnh nhau một cách đơn giản, mà chúng tác động qua lại lẫn nhau trong một hệ thống nhất định. Phạm Minh Hạc cho rằng: “Năng lực chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lý của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả một hoạt động nào đó” [17, tr. Theo ông, năng lực luôn gắn liền với một hoạt động nhất định; năng lực của một con người cụ thể được biểu hiện trong hoạt động và bằng kết quả của hoạt động. Năng lực cũng được hiểu như những đặc điểm tâm lý cá biệt tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động vào đối tượng lao động.

Tiếp cận năng lực là tổ hợp các phẩm chất tâm lý và sinh lý của cá nhân để hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó, theo Rudik.A: “Năng lực là tính chất tâm - sinh lý của con người chi phối các quá trình tiếp thu các 14 kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định” [38, tr. Ở đây, ông đã mở rộng khái niệm năng lực mà trong đó các điều kiện tâm - sinh lý có sự chi phối các loại hoạt động của con người.M xác định: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân liên quan đến tính kết quả trong thực hiện hoạt động này hay hoạt động khác” [12, tr. Tác giả xem xét năng lực từ góc độ khác biệt tâm lý cá nhân giữa người này với người khác thông qua kết quả hoạt động. Nguyễn Quang Uẩn và các nhà tâm lý học sư phạm thì cho rằng: “Năng lực là một tổ hợp những đặc điểm tâm lý và sinh lý cá nhân, đang là điều kiện chủ quan để cá nhân đó thực hiện có kết quả một hoạt động” [57, tr.

Với cách xem xét này các nhà tâm lý học sư phạm đã coi “những đặc điểm tâm lý và sinh lý cá nhân” là điều kiện chủ quan của năng lực và năng lực chỉ được biểu hiện trong quá trình hoạt động. Vũ Dũng trong từ điển tâm lý học cũng đưa ra quan niệm về năng lực: “Là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [13, tr. Theo tác giả, bất cứ một phẩm chất đơn lẻ nào của cá nhân cũng không thể đảm bảo hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nhất định. Sự thành công của bất cứ một hoạt động nào đều do sự kết hợp tổng thể của nhiều phẩm chất tâm lý cá nhân quyết định.

Tiếp cận năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức của nhiều yếu tố như kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân. đáp ứng hiệu quả của hoạt động trong bối cảnh nhất định, tác giả Meier Bernd quan niệm: “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [25].E quan niệm: “Năng lực là những kỹ năng, kỹ xảo học được hoặc có sẵn của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội. và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [60, tr. 15 Theo Hunsakr (2010) thì năng lực không phải dạng khả năng (Ability - có thể làm được hoặc không làm được) và cũng không phải là tiềm năng (potential) cả mỗi người mà nó thực sự tồn tại với mỗi cá nhân [dẫn theo 19, tr.

Tiếp cận năng lực là sự tổng hợp của ba thành tố tâm lý cơ bản bao gồm: kiến thức, thái độ và kỹ năng. Đây là hướng tiếp cận mới và khá phổ biến hiện nay về năng lực, được coi là bước đột phá trong nghiên cứu và ứng dụng năng lực vào thực tiễn nghề nghiệp. Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Battal Christian, Barnett, Bloom Benjamin, Martin và Phạm Đỗ Nhật Tiến … Tác giả Battal Christian khi nghiên cứu về năng lực chuyên môn trong hoạt động nghề nghiệp đã cho rằng, năng lực chuyên môn là những năng lực nhận thức, năng lực thực tiễn và năng lực hành vi mà một cá nhân đạt được. Năng lực chuyên môn bao gồm “kiến thức”, “kỹ năng” và “hành vi thái độ” cần thiết để đảm nhiệm một vị trí hoặc thực hiện một hoạt động.

Năng lực có được thông qua đào tạo và qua kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ thể [2, tr. Barnett cho rằng: “Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn” [Dẫn theo 15]. Tác giả Bloom Benjamin (1956) là người đầu tiên đưa ra mô hình năng lực (Competense Model) đó là tổ hợp của kiến thức, kỹ năng và đặc điểm cá nhân (thái độ bản thân) cần để hoàn thành tốt một vai trò hoặc công việc. Đây là mô hình năng lực được sử dụng trong quản trị nhân sự và phát triển năng lực cá nhân dựa trên ba nhóm tiêu chuẩn chính: 1- Kiến thức (Knowledges) thuộc về năng lực tư duy; 2- Kỹ năng (Skills) thuộc về kỹ năng thao tác và 3 - Phẩm chất hay thái độ (Attitude) thuộc về cảm xúc, tình cảm [Dẫn theo 19].

Theo Tổ chức Lao động thế giới - ILO, “Năng lực là sự vận dụng các kỹ năng, kiến thức và thái độ để thực hiện các nhiệm vụ theo tiêu chuẩn công nghiệp và thương mại dưới các điều kiện hiện hành”. Năng lực thực chất là sự 16 tích hợp của các thành tố kiến thức - kỹ năng - thái độ của chủ thể tạo ra khả năng thực hiện một công việc nhất định có kết quả [Dẫn theo 46]. Martin và các cộng sự cho rằng, năng lực bao giờ cũng là năng lực để hành động. Vì thế, chỉ có thể làm rõ khái niệm năng lực qua các đặc trưng chủ yếu của nó, theo đó các tác giả khẳng định: năng lực được xây dựng trên một tập hợp các nguồn lực bên trong cá nhân như: kiến thức, kỹ năng, thái độ và nguồn lực bên ngoài như: tài liệu, sách vở, đồng nghiệp [45, tr.

Tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến cho rằng: năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức của kiến thức, thái độ và kỹ năng. Theo đó, khi nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp của người giáo viên, Phạm Đỗ Nhật Tiến quan niệm: “Năng lực nghề nghiệp được hiểu là tổng thể của những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà giáo viên cần có để xử lý thành công trước sự đa dạng của các tình huống giảng dạy, giáo dục” [45, tr. Theo tác giả, năng lực nghề nghiệp được hình thành từ quá trình đào tạo trong trường sư phạm và phát triển qua thực tế đứng lớp. Trên cơ sở phân tích kế thừa quan điểm của các nhà tâm lý học nói chung, tâm lý học sư phạm và tâm lý học quân sự nói riêng về năng lực, có thể đưa ra khái niệm chung về năng lực như sau: “ Năng lực là tổ hợp của các thành tố kiến thức, thái độ và kỹ năng của chủ thể đáp ứng được yêu cầu hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động ấy đạt kết quả theo mục đích đã định”.

Từ khái niệm về năng lực chỉ ra những nội dung cốt yếu sau: Nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt kết quả trong hoạt động cụ thể nào đó, đó là phẩm chất nhân cách mang tính ổn định, bền vững trong mỗi cá nhân, là một phẩm chất mang tính tổng hợp của nhân cách. Năng lực con người bao giờ cũng có mầm móng bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quá trình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực. Năng 17 lực được hình thành, phát triển trong hoạt động và biểu hiện ra trong hoạt động. Thông qua hoạt động và bằng hoạt động, chủ thể mới có nhận thức về đối tượng, hiểu rõ về bản chất, quy luật, giá trị của đối tượng.

Trên cơ sở đó, chủ thể có sự bộc lộ thái độ phù hợp với đối tượng hoạt động và tìm kiếm được những cách thức, phương tiện tác động cải tạo đối tượng, qua đó cũng đồng thời hình thành được hệ thống các kỹ năng hoạt động tương ứng với đối tượng, mang lại kết quả, hiệu quả hoạt động. Năng lực bao giờ cũng là năng lực trong một hoạt động cụ thể, hướng tới một mục đích nhất định và đòi hỏi những phẩm chất tâm lý tương ứng, không giống nhau. Khi xét đến bản chất của năng lực cần chú ý năng lực không phải là những thuộc tính tâm lý cá nhân riêng lẻ, cũng không phải là phép cộng giản đơn của các phẩm chất tâm lý ấy mà là tổ hợp các thành tố kiến thức, thái độ, kỹ năng tạo nên khả năng hiện thực của chủ thể trong hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động ấy đạt được kết quả theo mục đích đã định. Tổ hợp không có nghĩa là chúng tồn tại song song mà chúng có mối quan hệ thống nhất hữu cơ, tác động qua lại, chi phối và chuyển hóa lẫn nhau theo yêu cầu của hoạt động nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ