Giáo trình Tâm lý học đại cương - PGS. Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên) & cộng sự

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
161
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình tâm lí đại cương

Giáo trình tâm lí đại cương là tài liệu học thuật nền tảng trong lĩnh vực tâm lí học. Giáo trình được biên soạn theo chương trình chi tiết của học phần Tâm lí học đại cương thuộc chương trình giáo dục cốt lõi chuyên nghiệp. Nội dung bao gồm bốn phần chính: những vấn đề chung của tâm lí học, nhận thức và sự học, nhân cách và sự hình thành nhân cách, sự sai lệch hành vi cá nhân và hành vi xã hội. Giáo trình cung cấp kiến thức cơ bản, hiện đại và hệ thống về tâm lí học. Đối tượng sử dụng bao gồm sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học sư phạm. Giáo trình cũng phục vụ đào tạo ở nhiều lĩnh vực khác nhau như pháp lí, y khoa, tuyên giáo, nghệ thuật, thể thao. Việc biên soạn giáo trình nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thực tế giảng dạy, học tập và nghiên cứu về tâm lí học. Giáo trình kế thừa có chọn lọc các tài liệu trong và ngoài nước. Đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới phù hợp với xu hướng phát triển của khoa học tâm lí.

1.1. Đối tượng và phạm vi áp dụng giáo trình

Giáo trình tâm lí đại cương được sử dụng rộng rãi trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Đối tượng chính là sinh viên đại học, cao đẳng và trung học sư phạm. Ngoài ra, giáo trình còn phục vụ đào tạo tại các trường tổng hợp, pháp lí, y khoa, tuyên giáo, nghệ thuật, thể thao. Các trường quân sự, cảnh sát, an ninh cùng hệ thống trường Đảng cũng áp dụng giáo trình này. Phạm vi sử dụng mở rộng đến các học viện và viện nghiên cứu. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của tâm lí học đại cương trong đào tạo nguồn nhân lực toàn diện.

1.2. Cấu trúc nội dung bốn phần chính của giáo trình

Giáo trình tâm lí đại cương gồm bốn phần nội dung chính. Phần thứ nhất trình bày những vấn đề chung của tâm lí học, bao gồm định nghĩa, lịch sử phát triển và cơ sở tự nhiên, xã hội của tâm lí. Phần thứ hai tập trung vào nhận thức và sự học. Phần thứ ba đề cập đến nhân cách và sự hình thành nhân cách. Phần thứ tư phân tích sự sai lệch hành vi cá nhân và hành vi xã hội. Cấu trúc này đảm bảo tính hệ thống và logic trong việc tiếp cận kiến thức tâm lí học từ cơ bản đến nâng cao.

II. Phân tích nội dung trọng tâm của giáo trình

Nội dung giáo trình tâm lí đại cương đề cập đến nhiều vấn đề trọng yếu của tâm lí học. Phần thứ nhất giới thiệu tâm lí học với tư cách là một khoa học, làm rõ khái niệm, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Giáo trình phân tích cơ sở tự nhiên của tâm lí, nhấn mạnh vai trò của bộ não như nền tảng vật chất của mọi hoạt động tâm lí. Não bộ nhận tác động của thế giới qua xung động thần kinh, tạo nên hiện tượng tâm lí theo cơ chế phản xạ. Phần về cơ sở xã hội của tâm lí khẳng định vai trò quyết định của hoàn cảnh xã hội đối với sự hình thành và phát triển tâm lí con người. Giáo trình còn đề cập đến sự hình thành và phát triển tâm lí, ý thức. Các quá trình nhận thức từ cảm tính đến lí tính được trình bày chi tiết. Nhận thức cảm tính phản ánh thuộc tính bề ngoài. Nhận thức lí tính phản ánh bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng.

2.1. Cơ sở tự nhiên và vai trò của não bộ trong tâm lí

Cơ sở tự nhiên của tâm lí là nền tảng vật chất quyết định mọi hoạt động tâm lí. Não bộ đóng vai trò trung tâm trong quá trình này. Não nhận tác động từ môi trường dưới dạng xung động thần kinh. Các biến đổi lí hóa xảy ra tại nơron, xinap và trung khu thần kinh. Hệ thống chức năng phản xạ của não tạo nên hiện tượng tâm lí. Vấn đề định khu chức năng tâm lí trong não được nghiên cứu từ lâu. Các phản xạ có điều kiện và quy luật hoạt động của não liên quan mật thiết đến tâm lí. Hệ thống tín hiệu thứ hai cũng có vai trò quan trọng.

2.2. Hai giai đoạn nhận thức trong hoạt động học tập

Hoạt động nhận thức trong giáo trình được chia thành hai giai đoạn lớn. Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên, sơ đẳng. Giai đoạn này phản ánh thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật qua các giác quan. Nhận thức cảm tính thiết lập mối quan hệ tâm lí giữa cơ thể và môi trường. Nhận thức lí tính là giai đoạn cao hơn, phản ánh bản chất và mối liên hệ bên trong. Giai đoạn này giúp con người hiểu biết quy luật của sự vật. Hai giai đoạn có quan hệ biện chứng, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.

III. Phương pháp nghiên cứu và giảng dạy tâm lí đại cương

Giáo trình tâm lí đại cương áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu và giảng dạy khoa học. Phương pháp quan sát được sử dụng để ghi nhận hành vi tự nhiên của con người. Phương pháp thực nghiệm cho phép kiểm tra giả thuyết trong điều kiện có kiểm soát. Phương pháp khảo sát qua bảng hỏi và phỏng vấn thu thập dữ liệu về đời sống tâm lí. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động đánh giá tâm lí qua kết quả lao động và sáng tạo. Trong giảng dạy, giáo trình sử dụng phương pháp kết hợp lí thuyết với thực tiễn. Người học được trang bị kiến thức nền tảng đồng thời rèn luyện kĩ năng vận dụng. Giáo trình nhấn mạnh mối quan hệ giữa nhận thức lí luận và thực hành. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy tâm lí là nhu cầu cấp thiết. Giáo trình khuyến khích tư duy phản biện và phân tích vấn đề tâm lí một cách khoa học. Phương pháp học tập chủ động được khuyến khích để phát triển năng lực tự học.

3.1. Phương pháp nghiên cứu tâm lí học hiện đại

Tâm lí học sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu đa dạng. Phương pháp quan sát tự nhiên ghi nhận hành vi trong môi trường thực tế. Phương pháp thực nghiệm tạo ra tình huống có kiểm soát để kiểm tra giả thuyết. Phương pháp trò chuyện và phỏng vấn giúp thu thập thông tin sâu về đời sống tâm lí. Phương pháp nghiên cứu lâm sàng áp dụng trong chẩn đoán và điều trị. Phương pháp thống kê toán học xử lí dữ liệu một cách chính xác. Sự kết hợp nhiều phương pháp đảm bảo tính khoa học và khách quan của kết quả nghiên cứu tâm lí học.

3.2. Ứng dụng đổi mới trong đào tạo tâm lí đại cương

Đổi mới đào tạo tâm lí đại cương là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Việc cập nhật nội dung giáo trình phù hợp với xu hướng phát triển khoa học là cần thiết. Phương pháp giảng dạy tích cực giúp sinh viên tiếp cận kiến thức hiệu quả hơn. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học tạo hứng thú cho người học. Kết hợp giữa bài giảng lí thuyết với thảo luận nhóm và tình huống thực tế. Đánh giá năng lực toàn diện thay vì chỉ kiểm tra kiến thức lí thuyết. Mục tiêu cuối cùng là đào tạo nguồn nhân lực có hiểu biết sâu sắc về tâm lí con người.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của giáo trình

Giáo trình tâm lí đại cương đóng vai trò quan trọng trong đào tạo và nghiên cứu tâm lí học tại Việt Nam. Nội dung giáo trình cung cấp nền tảng kiến thức vững chắc về bản chất, quy luật hoạt động tâm lí con người. Kiến thức từ giáo trình được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực đời sống. Trong giáo dục, hiểu biết tâm lí giúp giáo viên nắm bắt đặc điểm học sinh. Trong y khoa, kiến thức tâm lí hỗ trợ chẩn đoán và điều trị bệnh lí tâm thần. Trong quản lí nhân sự, tâm lí học giúp hiểu rõ động cơ và hành vi của nhân viên. Trong đời sống hàng ngày, kiến thức tâm lí giúp con người tự điều chỉnh hành vi. Giáo trình cũng là nền tảng cho việc nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề tâm lí học chuyên ngành. Sự phát triển không ngừng của khoa học tâm lí đòi hỏi giáo trình cần liên tục được cập nhật. Giáo trình tâm lí đại cương thực sự là công cụ hữu ích cho sự phát triển toàn diện của con người.

4.1. Ứng dụng tâm lí học trong lĩnh vực giáo dục

Tâm lí học đại cương có nhiều ứng dụng quan trọng trong lĩnh vực giáo dục. Hiểu biết về quá trình nhận thức giúp giáo viên thiết kế bài giảng phù hợp. Kiến thức về nhân cách hỗ trợ việc giáo dục đạo đức cho học sinh. Tâm lí học lứa tuổi giúp nắm bắt đặc điểm phát triển tâm lí của từng đối tượng. Việc phát hiện sớm sự sai lệch hành vi giúp can thiệp kịp thời. Giáo viên vận dụng kiến thức tâm lí để tạo môi trường học tập tích cực. Ứng dụng tâm lí học trong giáo dục góp phần nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện.

4.2. Giá trị của giáo trình trong đào tạo nguồn nhân lực

Giáo trình tâm lí đại cương có giá trị lớn trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng. Sinh viên được trang bị kiến thức nền tảng về tâm lí học phục vụ nghề nghiệp. Kiến thức tâm lí giúp nâng cao năng lực giao tiếp và làm việc nhóm. Hiểu biết về hành vi con người hỗ trợ công tác quản lí và lãnh đạo. Giáo trình cung cấp cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu chuyên sâu. Nguồn nhân lực được đào tạo bài bản về tâm lí học đáp ứng yêu cầu xã hội. Giá trị giáo trình được thể hiện qua chất lượng đào tạo tại các cơ sở giáo dục.

22/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG Tác giả: PGS. NGUYỄN QUANG UẨN (Chủ biên) PGS. TRẦN HỮU LUYẾN – TS. TRẦN QUỐC THÀNH LỜI NÓI ĐẦU Từ nhiều năm nay “Tâm lý học đại cương” không chỉ được giảng dạy và học tập ở các trường đại học, cao đẳng và trung học sư phạm mà còn ở một số trường đại học như: đại học tổng hợp, pháp lý, y khoa, tuyên giáo, nghệ thuật, thể thao… các trường đại học quân sự, cảnh sát, an ninh, ở hệ thống các trường Đảng, một số học viện, viện nghiên cứu. Việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện không ngừng tài liệu, giáo trình về tâm lý học đại cương là một nhu cầu cấp thiết của thực tế giảng dạy, học tập và nghiên cứu về tâm lý học. Tài liệu “Tâm lý học đại cương này được biên soạn theo chương trình chi tiết của học phần “Tâm lý học đại cương” thuộc chương trình giáo dục cốt lõi chuyên nghiệp, đã được “Chương trình giáo trình đại học” của Bộ nghiệm thu và gửi về các trường, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các trường thực hiện tốt quyết định 2677/GD-ĐT đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 3/12/1993. Cùng với việc tiếp tục, kế thừa có chọn lọc các tài liệu đã có trong và ngoài nước về tâm lý học đại cương, tập tài liệu này đã có thêm một số nội dung mới như: vấn đề di truyền và tâm lý, cơ sở xã hội của tâm lý, nhận thức về sự học, kiểu loại nhân cách, sự sai lệch hành vi… Nội dung tài liệu “Tâm lý học đại cương” bao gồm 4 phần trong khung thời gian 3 đvht - Phần thứ nhất: Những vấn đề chung của tâm lý học - Phần thứ hai: Nhận thức và sự học - Phần thứ ba: Nhân cách và sự hình thành nhân cách - Phần thứ tư: Sự sai lệch hành vi cá nhân và hình vi xã hội Tập thể các tác giả đã cố gắng nêu lên những kiến thức cơ bản, hiện đại, hệ thống về tâm lý học đại cương, với hy vọng cuốn sách được dùng làm tài liệu tham khảo cho CBGD và là một trong các tài liệu học tập của sinh viên. Song chắc chắn tài liệu không tránh khỏi những tồn tại và khiếm khuyết. Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu, chân tình của các bạn đồng nghiệp và độc giả để có thể sửa chữa, bổ sung nhằm đạt được sự hoàn thiện hơn CÁC TÁC GIẢ Phần 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC Phần 2. NHẬN THỨC VÀ SỰ HỌC Phần 3. NHÂN CÁCH VÀ SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH Phần IV. SỰ SAI LỆCH HÀNH VI CÁ NHÂN VÀ HÀNH VI XÃ HỘI TÀI LIỆU THAM KHẢO Created by AM Word2CHM Phần 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG Chương 1. TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC Chương 2. CƠ SỞ TỰ NHIÊN VÀ CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA TÂM LÝ NGƯỜI Chương 3. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ, Ý THỨC Created by AM Word2CHM Chương 1. TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG à Phần 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC Thế giới tâm lý của con người vô cùng diệu kỳ và phong phú, được loài người quan tâm nghiên cứu cùng với lịch sử hình thành và phát triển nhân loại. Từ những tư tưởng đầu tiên sơ khai về hiện tượng tâm lý, tâm lý học đã hình thành, phát triển không ngừng và ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong nhóm các khoa học về con người. Đây là một khoa học có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ HỌC Là một khoa học, tâm lý có đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu xác định. Song trước hết cần phải hiểu tâm lý là gì để từ đó bàn về khoa học tâm lý (tâm lý học). Tâm lý học là gì? Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều người vẫn thường sử dụng từ tâm lý để nói về cách cư xử của con người như: “Anh A rất tâm lý”, “chị B chuyện trò tâm tình, cởi mở”… Với ý nghĩa là ở anh A, chị B,… có hiểu biết về lòng người, về tâm tư, nguyện vọng, tính tình… của con người. Đó là cách hiểu “tâm lý” ở cấp độ nhận thức thông thường. Đời sống tâm lý của con người bao hàm nhiều hiện tượng tâm lý phong phú, đa dạng, phức tạp từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng đến tình cảm, ý chí, tính khí, năng lực, lý tưởng, niềm tin,. Trong tiếng Việt thuật ngữ “tâm lý”, ”tâm hồn” đã có từ lâu. Từ điển Tiếng Việt (1988) định nghĩa một cách tổng quát: “tâm lý” là ý nghĩ, tình cảm,…làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người. Theo nghĩa đời thường chữ “tâm” thường dùng với các cụm từ “nhân tâm”, “tâm đắc”, “tâm địa”, “tâm can”… thường có nghĩa như chữ “lòng”, thiên về tình cảm, còn chữ “hồn” thường để diễn đạt tư tưởng, tinh thần, ý thức, ý chí… của con người. “Tâm hồn”, tinh thần” luôn gắn với “thể xác”… Trong lịch sử xa xưa của nhân loại, trong tiếng La tinh: “Psyche” là “linh hồn”, “tinh thần” và “logos” là học thuyết, là “khoa học”, vì thế “tâm lý học” (Psychologie) là khoa học về tâm hồn. Nói một cách khái quát chung nhất: tâm lý bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người. Các hiện tượng tâm lý đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống của con người, trong quan hệ giữa con người với con người và cả xã hội loài người. Tâm lý học là khoa học về các hiện tượng tâm lý, nhưng trước khi tâm lý học ra đời với tư cách một khoa học độc lập, những tư tưởng tâm lý học đã có từ xa xưa gắn liền với lịch sử loài người. Vì thế trước khi bàn về đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học, chúng ta cần điểm qua vài nét lịch sử hình thành và phát triển lĩnh vực khoa học này. Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển tâm lý học a. Những tư tưởng tâm lý học thời cổ đại – Loài người ra đời trên trái đất này mới được khoảng 10 vạn năm – con người có trí khôn, có một cuộc sống có lý trí, tuy buổi đầu còn rất sơ khai, mông muội. Trong các di chỉ của người nguyên thủy đã thấy những bằng cứ chứng tỏ đã có quan niệm về cuộc sống của “hồn”, “phách” sau cái chết của thể xác. Trong các bản văn tự đầu tiên từ thời cổ đại, trong các kinh ở Ấn Độ đã có những nhận xét về tính chất của hồn, đã có những ý tưởng tiền khoa học về tâm lý. – Khổng Tử (551 – 479 TCN) nói đến chữ “tâm” của con người là “nhân, trí, dũng”, về sau học trò của Khổng Tử nêu thành “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. – Nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại là Xôcrat (469 – 399 TCN) đã tuyên bố câu châm ngôn nổi tiếng: “Hãy tự biết mình”. Đây là một định hướng có giá trị to lớn cho tâm lý học: con người có thể và cần phải tự hiểu biết mình, tự nhận thức, tự ý thức về cái ta. – Người đầu tiên “bàn về tâm hồn” là Arixtốt (384 – 322 TCN). Ông là một trong những người có quan điểm duy vật về tâm hồn con người. Arixtốt cho rằng: tâm hồn gắn liền với thể xác, tâm hồn có ba loạl: + Tâm hồn thực vật có chung ở người và động vật làm chức năng dinh dưỡng, (còn gọi là “tâm hồn dinh dưỡng”) + Tâm hồn động vật có chung ở người và động vật làm chức năng cảm giác, vận động (còn gọi là “tâm hồn cảm giác). + Tâm hồn trí tuệ chỉ có ở người (còn gọi là “tâm hồn suy nghĩ”). Quan điểm của Arixtốt đối lập với quan điểm của nhà triết học duy tâm cổ đại Platông (428-348 TCN) cho rằng tâm hồn là cái có trước, thực tại có sau, tâm hồn do thượng đế sinh ra. Tâm hồn trí tuệ nằm ở trong đầu, chỉ có ở giai cấp chủ nô; tâm hồn dũng cảm nằm ở ngực và chỉ có ở tầng lớp quý tộc, tâm hồn khát vọng nằm ở bụng và chỉ có ở tầng lớp nô lệ. – Đối lập với quan điểm duy tâm thời cổ đại về tâm hồn là quan điểm củạ các nhà triết học duy tâm như: Talet (thế kỷ thứ VII – VI TCN). cho rằng tâm lý, tâm hồn cũng như vạn vật đều được cấu tạo từ vật chất như: nước, lửa, không khí, đất. Còn Đêmôcrit (460 – 370 TCN) cho rằng tâm hồn do nguyên tử cấu tạo thành, trong đó “nguyên tử lửa” là nhân lõi tạo nên tâm lý. Thuyết ngũ hành coi kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tạo nên vạn vật, trong đó có cả tâm hồn. Các quan điểm duy vật và duy tâm luôn đấu tranh mãnh liệt xung quanh mối quan hệ vật chất và tinh thần, tâm lý và vật chất. Những tư tưởng tâm lý học từ nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước – Thuyết nhị nguyên: R. Đêcac (1596 – 1650) đại điện cho phái “nhị nguyên luận” cho rằng vật chất và linh hồn là hai thực thể song song tồn tại. Đêcac coi cơ thể con người phản xạ như một chiếc máy. Còn bản thể tinh thần, tâm lý của con người thì không thể biết được. Song Đêcac cũng đã đặt cơ sở đầu tiên cho việc tìm ra cơ chế phản xạ trong hoạt động tâm lý. – Sang thế kỷ XVIII, tâm lý học bắt đầu có tên gọi. Nhà triết học Đức Vôn Phơ đã chia nhân chủng học (nhân học) ra thành hai thứ khoa học: một là khoa học về cơ thể; hai là tâm lý học. Năm 1732 ông xuất bản cuốn “Tâm lý học kinh nghiệm”. Sau đó 2 năm (1734) ra đời cuốn “Tâm lý học lý trí”. Thế là “Tâm lý học” ra đời từ đó. – Thế kỷ XVII – XVIII – XIX cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và duy vật xung quanh mối quan hệ giữa tâm và vật. + Các nhà triết học duy tâm chủ quan như Beccơlix (1685 – 1753), E.Makhơ (1838 – 1916) cho rằng thế giới không có thực, thế giới chỉ là “phức hợp các cảm giác chủ quan” của con người.Hium (1711 – 1916) coi thế giới chỉ là những kinh nghiệm chủ quan”. Nguồn gốc của kinh nghiệm là do đâu? Hium cho rằng con người không thể biết. Vì thế người ta vẫn coi Hium thuộc vào phái bất khả tri.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ