ĐẶT VẤN ĐỀ 1 PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4 2. Năng lực đặc thù môn hóa học 4 2. Bài tập sáng tạo 6 2.
CƠ SỞ THỰC TIỄN 7 2. Thực trạng sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy và học môn hóa ở 7 các trường THPT 2. Khảo sát nhu cầu, kĩ năng học tập học sinh khi tiếp cận bài tập 7 sáng tạo trong quá trình học 2. Thuận lợi và khó khăn khi áp dụng đề tài 11 2.
SỬ DỤNG BÀI TẬP SÁNG TẠO CHƯƠNG HALOGEN - OXI - 11 LƯU HUỲNH ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐẶC THÙ MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC 2. Nội dung, cấu trúc chương Halogen, Oxi – Lưu huỳnh 11 2. Xây dựng bài tập sáng tạo 11 2. Bài tập về sản xuất 13 2.
Bài tập thực tiễn liên quan đến các vấn đề thời sự 19 2. Bài tập trải nghiệm thực tế 25 2. Bài tập cải tiến thí nghiệm 35 2. Bài tập thực hành điều chế các chất chương halogen – oxi lưu 36 huỳnh 2.
Xử lí hóa chất thí nghiệm an toàn 43 2. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 44 2. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG VÀ TRIỂN KHAI 47 skkn PHẦN 3. KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC skkn skkn PHẦN 1.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Chúng ta đang sống trong một xã hội ngày càng đa dạng, với xu thế toàn cầu hóa lôi cuốn sự hội nhập của mọi quốc gia trên thế giới. Những thay đổi và phát triển liên tục ở mọi khía cạnh của cuộc sống đã đặt ra những thách thức cho ngành giáo dục trong việc đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu mới của thời đại. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.
Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học”. Vì thế, để thực hiện tốt mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và Đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, chúng ta cần có nhận thức đúng về bản chất của sự đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học. Mục tiêu chính của đổi mới giáo dục là tạo ra lực lượng lao động sẵn sàng thích nghi với với sự thay đổi của thời đại. Với nền tảng vững chắc này, người lao động sẽ nắm bắt kiến thức mới nhanh chóng, biết áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế.
Hóa học là môn học thực nghiệm, kiến thức Hóa học được vận dụng rất nhiều trong thực tế cuộc sống, do đó thông qua bài tập sáng tạo, đặc biệt là các bài tập thực tiễn học sinh được mở rộng tri thức, rèn luyện khả năng tư duy, tính kiên nhẫn… và vận dụng những kiến thức được học vào giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Tuy nhiên chương trình hóa học hiện hành còn nhiều bấp cập, bài tập nặng nhiều về lý thuyết, tính toán, nhiều bài thực hành trùng lặp, không thực tế và xa vời thực tiễn. Nội dung hóa học gắn với các vấn đề thực tiễn còn ít, đặc biệt khả năng vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn hầu như không có. Tính giáo dục của môn hóa thông qua lượng bài tập thực tế trong sách giáo khoa cũng chưa thực sự nổi bật.
Chủ yếu đưa ra mặt tích cực của các chất, các phản ứng…còn về tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe con người và giải pháp cho vấn đề này thì rất ít đề cập. Đặc biệt những thông tin khoa học mới và những vấn đề mang tính thời sự có liên quan đến bộ môn không được cập nhật kịp thời vào chương trình. Chính vì vậy, những ứng dụng trong sách giáo khoa sẽ nhanh chóng lạc hậu. Điều đó làm cho ý nghĩa của việc học trở nên kém hứng thú và khó thuyết phục học sinh, làm hạn chế khả năng tư duy và vận dụng sáng tạo của học sinh Việt Nam so với bạn bè quốc tế.
Trong chương trình hóa học 10, với hệ thống chương halogen, oxi, lưu huỳnh có rất nhiều bài tập gắn với thực tiễn, sản xuất, môi trường nhưng chỉ được SGK nhắc đến sơ sài, thiếu logic khiến cho việc dạy và học trở nên nhàm chán. Việc 1 skkn thiết kế các bài tập sáng tạo gắn với năng lực đặc thù môn học ở những chương này thực sự cần thiết, giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Đã có một số đề tài nghiên cứu về bài tập sáng tạo, giải các bài toán có nội dung liên môn phát triển khả năng ứng dụng hóa học vào thực tiễn ở các trường phổ thông nhưng chúng tôi thấy rằng chưa có đề tài nào nghiên cứu về phương pháp thiết kế các bài tập sáng tạo chương halogen, oxi – lưu huỳnh theo hướng phát triển năng lực đặc thù môn hóa học – những năng lực cần thiết trong chương trình giáo dục phổ thông mới được đưa vào dạy từ năm học 2022-2023. Xuất phát từ những những yêu cầu đào tạo của xã hội, yêu cầu tất yếu về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và bộ môn hóa học nói riêng chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực đặc thù môn hóa học thông qua bài tập sáng tạo chương Halogen, Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT” với mong muốn góp thêm một số ý tưởng và biện pháp mới trong tổ chức dạy học để phát huy những năng lực tích cực cho HS trong thời đại công nghệ 4.
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Tìm hiểu cơ sở lí luận về năng lực đặc thù và bài tập sáng tạo môn hóa học. - Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa hóa học 10 theo định hướng phát triển năng lực GDPT 2018. - Nghiên cứu các phương pháp và cách thức lồng bài tập sáng tạo chương Halogen, Oxi – Lưu huỳnh để phát triển năng lực đặc thù môn hóa học. - Kết luận và đề xuất.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Phương pháp nghiên cứu lí luận - Phương pháp điều tra - Phương pháp thực nghiệm sư phạm - Phương pháp thống kê toán học. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI * Về mặt lí luận: - Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận về sử dụng các bài tập sáng tạo để phát triển các năng lực đặc thù môn hóa học. * Về mặt thực tiễn: - Cung cấp nguồn tư liệu giúp GV dễ dàng lựa chọn và áp dụng vào bài dạy để phát huy tính sáng tạo cho HS thông qua các bài tập về cải tiến thí nghiệm, xử lí 2 skkn hóa chất an toàn, bài tập liên quan đến các vấn đề thời sự, môi trường là những bài tập có xu hướng sử dụng nhiều trong chương trình giáo dục phổ thông mới. - Tổ chức một số hoạt động trải nghiệm thăm quan thực tế như: Quy trình xử lí nước ở bể bơi, tìm hiểu quy trình xử lí hồ tôm các hộ dân dọc sông Mai Giang, quy trình sản xuất muối tại địa phương nơi các em sinh sống.
Điều này giúp HS có thêm niềm tin vào khoa học từ đó phát huy năng lực đặc thù môn hóa, góp phần nâng cao hiệu quả học tập trong dạy học hóa học ở trường phổ thông. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2. Năng lực đặc thù môn hóa học Năng lực được hiểu là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người phù hợp với những hoạt động nhất định, bảo đảm cho những hoạt động đó có kết quả. Có hai loại năng lực cơ bản là: năng lực chung và năng lực chuyên biệt.
Năng lực chung là những năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau, là điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có kết quả. Năng lực chuyên biệt là những năng lực thể hiện độc đáo các sản phẩm riêng biệt có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực, hoạt động chuyên biệt với kết quả cao. Môn Hoá học hình thành và phát triển ở học sinh năng lực hoá học - một biểu hiện đặc thù của năng lực khoa học tự nhiên với các thành phần: nhận thức hoá học; tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hoá học; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Các biểu hiện cụ thể của năng lực hoá học được trình bày ở bảng tổng hợp dưới đây: Thành phần Biểu hiện năng lực Nhận thức hoá Nhận thức được các kiến thức cơ sở về cấu tạo chất; các quá học trình hoá học; các dạng năng lượng và bảo toàn năng lượng; một số chất hoá học cơ bản và chuyển hoá hoá học; một số ứng dụng của hoá học trong đời sống và sản xuất.
Các biểu hiện cụ thể: - Nhận biết và nêu được tên của các đối tượng, sự kiện, khái niệm hoặc quá trình hoá học. - Trình bày được các sự kiện, đặc điểm, vai trò của các đối tượng, khái niệm hoặc quá trình hoá học. - Mô tả được đối tượng bằng các hình thức nói, viết, công thức, sơ đồ, biểu đồ, bảng. - So sánh, phân loại, lựa chọn được các đối tượng, khái niệm hoặc quá trình hoá học theo các tiêu chí khác nhau.
- Phân tích được các khía cạnh của các đối tượng, khái niệm hoặc quá trình hoá học theo logic nhất định. - Giải thích và lập luận được về mối quan hệ giữa các các đối tượng, khái niệm hoặc quá trình hoá học (cấu tạo - tính chất, 4 skkn nguyên nhân - kết quả,. - Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học. - Thảo luận, đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề.
Quan sát, thu thập thông tin; phân tích, xử lí số liệu; giải thích; dự đoán được kết quả nghiên cứu một số sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và đời sống.