Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ðỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vấn ñề nghiên cứu Theo PGS. Nguyễn Xuân Trường, khi ra ñời tại Pháp vào năm 1905, trắc nghiệm lúc ban ñầu ñược dùng ñể ño chỉ số thông minh IQ của HS [32]. Tuy nhiên ngày nay, trắc nghiệm ñược hiểu là hình thức ñặc biệt ñể thăm dò một ñặc ñiểm về năng lực trí tuệ hoặc ñể kiểm tra một số kiến thức, kỹ năng của HS thuộc một chương trình nhất ñịnh.
Hiện nay, rất nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan ñã tổ chức tuyển sinh ñại học bằng phương pháp trắc nghiệm. Một số kì thi khá phổ biến, có quy mô toàn cầu hiện nay như TOELF, SAT, GRE…ñều sử dụng hoàn toàn câu hỏi TNKQ trong bài thi của mình. Ở Việt Nam, kì thi tuyển sinh ðại học bằng phương pháp TNKQ ñã ñược tổ chức thành công lần ñầu tiên tại ðà Lạt. Sau nhiều năm gián ñoạn, môn ngoại ngữ ñã ñược tổ chức thi theo hình thức TNKQ trong kì thi tuyển sinh ñại học năm 2006.
Sang năm 2007, Bộ Giáo dục và ðào tạo ñã có chủ trương tuyển sinh ðại học bằng phương pháp TNKQ ở một số môn, trong ñó có Hóa học. Từ khi có chủ trương này, phong trào kiểm tra, thi dưới hình thức TNKQ ở trường phổ thông ñã trở nên phổ biến. Tuy nhiên, việc xây dựng câu hỏi TNKQ, tạo lập, tổ chức ngân hàng ñề ñã gây cho các GV không ít khó khăn. Theo tác giả Cao Tiến Khoa, tối ưu hóa nhất việc kiểm tra bằng phương pháp TNKQ chính là sử dụng trực tiếp các phần mềm thi TNKQ trên các mạng máy tính trong các trường THPT, trong ñó bước khởi tạo ñề, thực hiện thi và chấm thi ñược tiến hành nhanh chóng, khách quan và trực tiếp trên máy [15].
Thực tế hiện nay số lượng máy tính ñược trang bị ở các trường phổ thông là khá lớn. HS ngày càng ñược trang bị các kỹ năng CNTT tốt hơn nên việc sử dụng các phần mềm thi trắc nghiệm có tính khả thi cao, dễ bảo mật ngân hàng câu hỏi. 6 Việc chấm thi ñược tiến hành ngay sau khi HS kết thúc bài làm và có thể công bố ngay. Việc công bố các kết quả dùng cho mục ñích nghiên cứu, dạy học cũng dễ dàng hơn khi bản thân các dữ liệu ñã ở dưới dạng số [13].
ðể giải quyết những vấn ñề ñó, ñã có rất nhiều công ty, trung tâm nghiên cứu cũng như các cá nhân ứng dụng CNTT ñể xây dựng bộ công cụ hỗ trợ KTðG dưới hình thức TNKQ. Một số phần mềm ñiển hình có thể kể ñến như phần mềm EMP của ðại học kinh tế, phần mềm IBT Cat, phần mềm của GV Phạm Văn Trung…[15]. Các phần mềm trên ñã ñược sử dụng khá rộng rãi trong các trường phổ thông, tuy nhiên vẫn chưa có một khảo sát chính thức nào về hiệu quả của chương trình ñối với quá trình KTðG ở các môn học, ñặc biệt là với môn Hóa học ở trường THPT. Bên cạnh các sản phẩm trên, cũng ñã có một số công trình nghiên cứu khá hoàn chỉnh về việc ứng dụng CNTT trong việc KTðG dưới hình thức TNKQ.
Một số phần mềm ñã ñược nghiên cứu, thiết kế và thực nghiệm như phần mềm TEST ONLINE [13], phần mềm LOTUS [9]…Phần mềm TEST ONLINE có môi trường hoạt ñộng là MSDOS nên còn hạn chế về font chữ và số lượng câu hỏi trắc nghiệm trong một ñề thi. Phần mềm LOTUS do các giảng viên thuộc khoa Hóa trường ðại học sư phạm Hà Nội thiết kế với khả năng chạy trên mạng nội bộ. Ưu ñiểm của chương trình là thao tác sử dụng ñơn giản, ngân hàng ñề thi có ñầy ñủ các dạng câu hỏi TNKQ (ñúng sai, nhiều lựa chọn, ghép ñôi, ñiền khuyết). Khi tổ chức thi, GV có thể chọn các nội dung ñề thi.
Kết thúc kì thi, HS có thể quan sát ñược kết quả thi của mình. Phần mềm LOTUS ñã ñược triển khai cho lớp bồi dưỡng ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học Hóa học cho 40 GV môn Hóa từ nhiều tỉnh và thành phố trong cả nước vào dịp hè 2007. Tuy nhiên các chương trình cũng chỉ hỗ trợ cho ñối tượng là GV trong quá trình KTðG. Nhìn chung, số lượng công trình nghiên cứu về vấn ñề này còn hạn chế, các sản phẩm hầu hết chưa ñược ứng dụng rộng rãi sau nghiên cứu.
ðể hỗ trợ cho quá trình KTðG môn Hóa học, cũng ñã có một số công trình nghiên cứu thiết kế các tài liệu tự học ñiện tử như các website tự học, các sách ñiện tử (ebook), thư viện ñiện tử cho HS. Tuy nhiên, các sản phẩm này cũng chỉ dừng lại 7 là công cụ hỗ trợ cho một ñối tượng là HS trong việc ôn tập, củng cố, mở rộng kiến thức. Tóm lại, việc ứng dụng CNTT trong KTDG dưới hình thức TNKQ ñã và ñang thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có sản phẩm hoàn chỉnh ñược thử nghiệm và ứng dụng rộng rãi.
Vẫn chưa có một hệ thống công cụ hoàn chỉnh vừa hỗ trợ GV, vừa hỗ trợ HS trong quá trình KTðG. Việc ứng dụng CNTT ñể tạo lập một phương tiện hoàn chỉnh, hỗ trợ tất cả các ñối tượng tham gia trong quá trình KTðG vẫn chưa ñược nghiên cứu và thử nghiệm toàn diện. TNKQ trong KTðG kết quả học tập 1. Các phương pháp KTðG Theo các tác giả Trần Thị Tuyết Oanh, Trần Thị Bích Hạnh, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Cương, Dương Xuân Trinh, Nguyễn Xuân Trường…, ñể ñạt ñược các mục ñích yêu cầu của KTðG cần sử dụng một hệ thống các phương pháp kiểm tra khác nhau [11], [18], [21], [22], [31].
Mỗi phương pháp ñều có giá trị trong việc thu thập thông tin về kết quả học tập của HS. Phương pháp kiểm tra nào cũng có ưu ñiểm và hạn chế nhất ñịnh, vì vậy cần lựa chọn các phương pháp KTðG sao cho phù hợp với mục tiêu ñánh giá. Phương pháp kiểm tra nói (vấn ñáp) a. Khái niệm Phương pháp kiểm tra nói (vấn ñáp) là “phương pháp GV tổ chức hỏi và ñáp giữa GV và HS, qua ñó thu ñược thông tin về kết quả học tập của HS” [21].
Kiểm tra nói có thể tiến hành cho từng cá nhân (hỏi cá nhân) hay ñồng loạt một số HS (hỏi trực tiếp toàn lớp). Phương pháp kiểm tra này ñược sử dụng phổ biến và rộng rãi trong các khâu của quá trình dạy học như kiểm tra bài cũ, giảng bài mới hay củng cố bài học…[31]. Ưu ñiểm, nhược ñiểm Ưu ñiểm của phương pháp kiểm tra này là giúp cho GV thu ñược tín hiệu ngược một cách nhanh chóng và kịp thời ở nhiều ñối tượng HS khác nhau ñể ñiều chỉnh việc giảng dạy tiếp theo, từ ñó thúc ñẩy HS học tập thường xuyên, có hệ thống và phát triển kỹ năng diễn ñạt bằng ngôn ngữ nói. Hạn chế của phương pháp này là ở chỗ chỉ kiểm tra ñược một số ít HS.
Hơn nữa, hiệu quả của phương pháp kiểm tra nói phụ thuộc nhiều vào yếu tố như câu hỏi kiểm tra, sự chuẩn bị của HS, thái ñộ của GV. Do vậy, người GV cần biết cách sử dụng mới ñạt hiệu quả mong muốn. Phương pháp kiểm tra viết a. Khái niệm Theo PGS.
Nguyễn Xuân Trường, ở trường phổ thông hiện nay, “kiểm tra viết là hình thức kiểm tra 15 phút, 1 tiết (45 phút), kiểm tra học kì dưới hình thức tự luận” [31]. Ưu ñiểm, nhược ñiểm Ưu ñiểm của phương pháp kiểm tra viết là trong cùng một thời gian nhất ñịnh kiểm tra ñược toàn lớp, do ñó dễ dàng thống nhất yêu cầu kiểm tra ñồng thời có thể ñánh giá, ñối chiếu, so sánh ñược trình ñộ HS trong lớp với nhau. Phương pháp kiểm tra này có khả năng kiểm tra từ một vấn ñề nhỏ ñến một vấn ñề lớn có tính chất tổng hợp. Kết quả bài làm của HS giúp GV ñánh giá tương ñối khách quan, không chỉ mức ñộ nắm kiến thức mà còn cả kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Mặt khác, kiểm tra viết giúp HS rèn luyện năng lực hệ thống hoá, khái quát hoá, tổng hợp nội dung học vấn và trình bày, biểu ñạt bằng ngôn ngữ viết của chính mình. Hạn chế của phương pháp kiểm tra viết thể hiện ở chỗ nội dung kiểm tra không bao hàm ñược nhiều vấn ñề, không phủ kín toàn bộ nội dung môn học, dễ gây thói quen học tủ, học lệch…Với kiểm tra viết, thiếu mất sự sinh ñộng giữa GV và HS nên khó nắm bắt thông tin ngược một cách kịp thời. Phương pháp kiểm tra 9 này khó ñảm bảo tính chính xác nếu không ñược tổ chức một cách nghiêm túc và khó có ñiều kiện ñể ñánh giá kỹ năng thức hành, thí nghiệm, sử dụng phương tiện kỹ thuật… của HS. Phương pháp kiểm tra thực hành a.
Khái niệm “Phương pháp kiểm tra thực hành là phương pháp GV tổ chức cho HS tiến hành các hoạt ñộng thực tiễn, qua ñó thu ñược những thông tin về kỹ năng thực hành của HS” [21]. Phương pháp kiểm tra này nhằm kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo thực hành, không chỉ ñơn thuần kiểm tra kỹ năng biết làm một cái gì ñó mà là kỹ năng vận dụng lí thuyết vào các tình huống khác nhau trong thực tiễn. Ưu ñiểm, nhược ñiểm Ưu ñiểm: Hình thức kiểm tra này giúp HS nắm vững kiến thức, kích thích tính sáng tạo khả năng tư duy và có khả năng hình thành kỹ năng thực hành cho HS. Nhược ñiểm: Hình thức kiểm tra này không kiểm tra ñược nhiều HS, tốn nhiều thời gian và ñòi hỏi cao về cơ sở vật chất.
Phương pháp kiểm tra bằng TNKQ Hiện nay, việc kiểm tra vẫn còn nhiều vấn ñề phải bàn cãi về phương pháp tổ chức và cả trong nội dung thực hiện. Trong xu thế phát triển của khoa học giáo dục nói chung, lí luận dạy học nói riêng, vấn ñề cấp bách nhất ñược ñặt ra là cần ñổi mới và hoàn thiện các hình thức và phương pháp KTðG. Một trong những hướng mới là sử dụng phương pháp TNKQ. Khái niệm Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh và các cộng sự, “mỗi bài kiểm tra TNKQ thường bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu thường ñược trả lời bằng một dấu hiệu ñơn giản, một từ hay một cụm từ” [21].
Các câu hỏi trong bài kiểm tra TNKQ có thể thuộc một trong các loại: câu hỏi nhiều lựa chọn, câu ñúng-sai, câu ñiền vào chỗ trống (loại câu ñiền khuyết) hay câu ghép ñôi. Ưu ñiểm, nhược ñiểm 10 Phương pháp kiểm tra bằng TNKQ có một số ưu ñiểm sau: - Có thể ño lường một cách ña dạng và khách quan với nhiều mức ñộ nhận thức.