CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề chung về kĩ năng và kĩ năng DHTH 1. Kĩ năng và kĩ năng dạy học 1. Kĩ năng a) Khái niệm kĩ năng Kĩ năng là một vấn đề rất phức tạp.
Cho tới thời điểm này trên thế giới đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về kĩ năng: Theo Lani Arredondo “Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ mới”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư thì: “ Kĩ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc vào đó phát sinh trong cuộc sống” .Tác giả Lê Văn Hồng cho rằng “Kĩ năng là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể”[36, 45, 24] Từ những khái niệm của những nhà nghiên cứu trên có thể thấy một số điểm chung trong các quan niệm về kĩ năng: - Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kĩ năng. Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động. - Kĩ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động cá nhân.
- Kĩ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằm đạt được mục đích đặt ra. Từ những phân tích trên, chúng tôi hiểu khái niệm của kĩ năng như sau: “Kỹ năng” là khả năng thực hiện có hiệu quả một hành động, công việc nào đó trên cơ sở nắm vững phương thức thực hiện và sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động phù hợp với những điều kiện nhất định. b) Đặc điểm của kĩ năng Những nghiên cứu gần đây về kỹ năng cho thấy, các tác giả không dừng ở việc làm rõ hơn bản chất, quá trình hình thành, mức độ kỹ năng mà còn khai thác, lý giải một cách thống nhất, biện chứng về các đặc điểm của nó. Thành tựu này không chỉ 10 mang lại những tri thức sâu hơn về kỹ năng mà còn có giá trị to lớn đối với việc xây dựng tiêu chí đánh giá, thang đánh giá kỹ năng trong các công trình nghiên cứu thực tiễn.
Theo đó, kỹ năng có những đặc điểm cơ bản sau đây: Tính đúng đắn: Đây là đặc điểm đầu tiên và cũng là đặc điểm có khả năng chi phối các đặc điểm khác của kỹ năng, với tư cách là đặc điểm nền tảng. Muốn có kỹ năng, chủ thể phải nhận thức đúng về đối tượng hoạt động và cách thức tác động vào đối tượng (biết làm) theo đúng các yêu cầu của hoạt động. Do vậy, tính đúng đắn của kỹ năng thể hiện ở chỗ cá nhân biết thực hiện hành động/hoạt động một cách chính xác, không bị mắc lỗi, phù hợp với yêu cầu và điều kiện thực tiễn của hoạt động. Đặc điểm này tuy chưa thể hiện mức độ cao của kỹ năng nhưng lại là mức độ và điều kiện kiên quyết mà chủ thể cần phải đạt được khi thực hiện hành động.
Tính đầy đủ: Những yêu cầu mà hoạt động đặt ra cho chủ thể có thể khác nhau về số lượng hoặc mức độ, tùy vào hoàn cảnh, điều kiện tiến hành hoạt động. Vì vậy, chủ thể cần hiểu không chỉ đúng mà còn phải đủ về kỹ năng và thực hiện đầy đủ các yêu cầu của nó, đặc biệt ở giai đoạn đầu hình thành kỹ năng. Chỉ đến những giai đoạn sau (kỹ năng đã phát triển cao) thì một số thao tác không thực sự cần thiết mới có thể được loại bỏ. Tính khái quát: Tri thức, kinh nghiệm về hành động/hoạt động của cá nhân thường không tồn tại riêng rẽ, biệt lập với nhau cũng như với tri thức, kinh nghiệm thuộc các lĩnh vực khác của đời sống.
Khi đã trở thành tri thức của hành động, định hướng cho cách thức hành động của con người thì hệ thống tri thức này đã được sắp xếp một cách thống nhất và mang tính khái quát. Mặt khác, trong quá trình luyện tập để hình thành kỹ năng, những tri thức/động tác thừa sẽ được giảm thiểu, tri thức/động tác chưa chính xác sẽ bị loại trừ và được thay thế bằng những tri thức/động tác phù hợp hơn. Vì vậy, khi cá nhân có kỹ năng hành động thì bản thân hành động đó đã mang tính khái quát ở mức độ nhất định. Tính thành thục: Để đánh giá chủ thể có kỹ năng hay không, ngoài việc đánh giá tính đúng, tính đầy đủ của hành động, còn cần đánh giá tốc độ hành động nhanh hay chậm, việc thực hiện hành động trôi chảy hay bị vướng mắc, còn nhiều lỗi…Càng thực hiện hành động nhanh, trôi chảy mà vẫn đảm bảo độ chính xác cao bao nhiêu thì kỹ năng càng được đánh giá là hoàn thiện ở mức độ cao bấy nhiêu.
Do 11 vậy, tính thành thục của kỹ năng được thể hiện ở sự kết hợp các thao tác một cách nhuần nhuyễn, hợp lý, tốc độ thực hiện nhanh, ổn định, bền vững, độ chính xác cao, không bị lúng túng, vụng về trong quá trình thực hiện các thao tác. Tính linh hoạt: Điều kiện tiến hành hoạt động không phải lúc nào cũng ổn định mà có thể biến đổi. Do đó, khi tiến hành hành động/hoạt động, con người thường không chuyển nguyên si, máy móc các tri thức, kinh nghiệm đã có vào việc thực hiện nhiệm vụ mới mà thường thay đổi nó (theo hướng bổ sung/lược bớt/sáng tạo thêm…) để hành động/hoạt động trở nên phù hợp với điều kiện thực tế. Vì vậy, tính linh hoạt của kỹ năng được thể hiện ở sự mềm dẻo, có khả năng biến đổi, làm cho nó trở nên phù hợp với điều kiện khác nhau của hoạt động.
Tính hiệu quả: là việc đạt được mục đích của hoạt động ở những mức độ khác nhau. Tính hiệu quả của kỹ năng được tạo ra từ sự kết hợp một cách thống nhất ba đặc điểm: tính đúng đắn, thành thục, linh hoạt và được bộc lộ cũng trên cơ sở tổng hợp các đặc điểm này. Bởi vì, muốn có kỹ năng, con người phải vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hành động/hoạt động một cách đúng đắn, thành thục, linh hoạt, từ đó tạo ra kết quả - sản phẩm cuối cùng của hoạt động. Mà sản phẩm này như thế nào lại phụ thuộc vào mức độ đúng đắn, thành thục, linh hoạt của các hành động, thao tác diễn ra trong quá trình thực hiện nó.
Điều đó cho thấy, nếu ba tính chất trên được thực hiện tốt thì hiệu quả của kỹ năng sẽ cao và ngược lại. Những đặc điểm trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó, tính đúng đắn có vai trò đặc biệt, như một điều kiện tiên quyết để có được kỹ năng. Bởi vì cá nhân có thể thực hiện hành động nhanh, không cứng nhắc theo khuôn mẫu…nhưng nếu không đúng với yêu cầu hoạt động thì cũng rất ít giá trị và cá nhân chưa thể coi là có kỹ năng. Kĩ năng dạy học a) Khái niệm kỹ năng dạy học: Trong lí luận và thực tiễn kĩ năng dạy học được xem xét dưới hai góc độ: thứ nhất là theo góc độ tiếp cận cấu trúc hoạt động dạy học, thứ hai là theo cấu trúc quá trình dạy học.
Theo góc độ thứ nhất, người ta nghiên cứu những kĩ năng, kĩ xảo, thủ thuật, thao tác trí tuệ, hoạt động tư duy trong dạy học. Theo góc độ thứ hai, các nhà 12 khoa học xem xét các kĩ năng, kĩ xảo dạy học bên ngoài, tức là cách thức tiến hành công tác dạy học. Kỹ năng dạy học là một phần không thể thiếu của mỗi giáo viên, nó giúp cho Gv có thể triển khai một cách hợp lí các hoạt động dạy và hoạt động học. Qua quá trình công tác và giảng dạy, thông qua sự tích lũy kinh nghiệm sống thì kĩ năng dạy học dần được hình thành cùng với đầy đủ các đặc điểm chung như: tính chính xác, tính linh hoạt và tính hiệu quả.
Từ các khái niệm trên chúng tôi thấy rằng kỹ năng dạy học có thể được hiểu: là một dạng hành động được thực hiện có tính kĩ thuật, tự giác, dựa trên tri thức về dạy học, khả năng vận động và những điều kiện sinh học - tâm lí khác của cá nhân (chủ thể có kĩ năng đó như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân…) để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định. Kĩ năng dạy học chính là hành động dạy học được thực hiện có ý thức, có kĩ thuật và có kết quả. b) Đặc trưng của kỹ năng dạy học: Kỹ năng dạy học là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học trong công tác giảng dạy , nó thể hiện kĩ thuật và năng lực giảng dạy của giáo viên theo từng mức độ nhất định. Kết quả học tập dựa vào kỹ năng dạy học của giáo viên.
Nhờ kĩ năng dạy học, giáo viên xác định đúng các mục tiêu của bài học, từ đó tổ chức hiệu quả các hoạt động dạy học đem lại kết quả tốt nhất. Kỹ năng dạy học là một hệ thống bao hàm trong nó những kỹ năng dạy học chuyên biệt. Các kỹ năng dạy học chuyên biệt như một hệ thống còn được tạo nên bởi các kỹ năng thành phần. kỹ năng dạy học là một hệ thống mở, mang tính phức tạp, nhiều tầng bậc và mang tính phát triển, trong đó có những kỹ năng dạy học cơ bản.
c) Phân loại kỹ năng dạy học: Lê Đình Trung, khi bàn về kĩ năng dạy học cho rằng, ở Việt Nam, trên tinh thần đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, các yêu cầu về năng lực cơ bản của người giáo viên bao gồm [19]: + Kĩ năng chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học. + Kĩ năng xây dựng kế hoạch dạy học. 13 + Kĩ năng tổ chức, thực hiện kế hoạch dạy học. + Kĩ năng giám sát, đánh giá các kết quả hoạt động dạy học.
+ Kĩ năng xử lí các tình huống sư phạm trong thực tiễn dạy học. Hệ thống các kĩ năng trên thể hiện trong toàn bộ hoạt động giáo dục, chúng hỗ trợ và chi phối lẫn nhau, đồng thời nó tạo ra nhân cách điển hình của người giáo viên.