Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TIẾNG ANH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng giáo viên Tiếng Anh Trung học phổ thông theo tiếp cận năng lực 1. Tổng quan nghiên cứu về giáo viên Tiếng Anh theo tiếp cận năng lực Với sự toàn cầu hóa và quốc tế hóa giáo dục, số lượng người sử dụng Tiếng Anh ngày càng tăng trên toàn thế giới. Điều này dẫn đến việc tạo ra các đặc điểm ngôn ngữ độc đáo và thực tế ngôn ngữ xã hội đặt ra những thách thức đa dạng cho giáo viên (GV) Tiếng Anh, những người phải chuẩn bị cho người học thực hiện tốt các yêu cầu thực tế bên ngoài lớp học.
Để giải quyết cho những thách thức này, trong thời gian qua đã có rất nhiều nghiên cứu về GV ngoại ngữ nói chung và giáo viên Tiếng Anh nói riêng – người đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập ngoại ngữ của học sinh và sự thành công ở trường học (Desimone, 2011; Macia và García, 2016 ; Sancar và cộng sự, 2021). [77] Buchmann (1984) lập luận rằng việc thông thạo ngoại ngữ đích của GV giúp họ có thể sử dụng ngôn ngữ đó trong lớp học, cá nhân hóa bài học theo trình độ của học sinh (HS) và tạo điều kiện cho việc soạn giáo án hiệu quả. Cụ thể hơn, Schulz (2000) chỉ ra rằng cần phải xác định trình độ ngôn ngữ phù hợp để dạy ngoại ngữ hiệu quả. [41][102] Có nhiều nghiên cứu tập trung vào nền tảng kiến thức của GV bao gồm kiến thức chuyên ngành và kiến thức sư phạm.
Vélez-Rendón (2002) đã định nghĩa kiến thức chuyên ngành là những tri thức về những gì họ dạy và kiến thức sư phạm là những gì GV biết về việc dạy chuyên ngành của họ. Nói cách khác, kiến thức chuyên ngành trong dạy ngoại ngữ đề cập đến trình độ thông thạo ngôn ngữ mục tiêu trong nhiều trường hợp, trong 12 khi kiến thức sư phạm đề cập đến các lý thuyết, phương pháp giảng dạy và kiểm tra ngoại ngữ. Shulman (1986) lập luận rằng kiến thức sư phạm bao gồm các ý tưởng, khái niệm, sự diễn giải, giải thích và minh họa được sử dụng để làm cho chủ đề trở nên dễ hiểu đối với học sinh. Lập luận của Shulman ngụ ý rằng các lý thuyết và phương pháp giảng dạy là những lĩnh vực quan trọng của giảng dạy ngoại ngữ.
Vì vậy, theo Shulman những lý thuyết và phương pháp này cần được nghiên cứu chuyên sâu và cốt lõi trong các chương trình giảng dạy ngoại ngữ dành cho GV tương lai và giáo viên đương nhiệm. [105][112] Nghiên cứu của Pasternak và Bailey (2004) hoàn toàn thống nhất với các quan điểm trên. [92] Sự tiếp tục về trình độ thông thạo ngôn ngữ đích và chuẩn bị chuyên môn của Pasternak và Bailey (2004) [91] Theo mô hình này, giáo viên ở Góc phần tư 1 thành thạo ngôn ngữ đích và được chuẩn bị về mặt chuyên môn, trong khi GV ở Góc phần tư 4 không thông thạo ngôn ngữ đích cũng như không được chuẩn bị về mặt chuyên môn để trở thành GV ngoại ngữ. Những GV thuộc Góc phần tư 2 được chuẩn bị chuyên môn để trở thành GV ngoại ngữ nhưng chưa thành thạo ngôn ngữ đích và GV trong Phần tư thứ 3 thành thạo ngôn ngữ đích nhưng không được chuẩn bị về mặt chuyên môn để trở thành GV ngoại ngữ.
Điều khiến mô hình này trở nên thú vị là nó đặt ra những phẩm chất then chốt của một người GV dạy ngoại ngữ hiệu quả (tức là trình độ thông thạo ngôn ngữ đích và chuyên môn) là phải liên tục, không bao giờ có điểm cuối. Cụ thể hơn, Pasternak và Bailey (2004) lập luận rằng việc trở thành người bản ngữ của một ngôn ngữ không có nghĩa là có năng lực dạy ngôn ngữ đó và GV không chỉ phải thành thạo ngôn ngữ họ đang dạy mà còn phải chuẩn bị chuyên môn để trở thành GV dạy ngôn 13 ngữ. Hơn nữa, họ nhấn mạnh tầm quan trọng của cả kiến thức khai báo (kiến thức về ngôn ngữ đích, văn hóa và việc giảng dạy) và kiến thức quy trình (kiến thức về cách sử dụng ngôn ngữ đích, cách dạy phù hợp về mặt văn hóa và cách cư xử phù hợp với ngôn ngữ đích) để GV ngoại ngữ phục vụ hiệu quả trong lớp học. Do đó, các chương trình bồi dưỡng giáo viên (BDGV) nên hỗ trợ sự phát triển của GV trong các lĩnh vực này thông qua các khóa học và thực hành giảng dạy.
Tất cả GV cần phải lồng ghép đào tạo (phát triển kỹ năng sư phạm) với kiến thức và hiểu biết chuyên môn. Điều này sẽ khác nhau đối với mỗi loại GV, vì những phẩm chất này xuất hiện từ bối cảnh giảng dạy cụ thể của họ. Ngoài ra, nghiên cứu của Shariatifar, S. Đối với CK, 3 yếu tố trọng điểm là kiến thức về các nguyên tắc của phương pháp giảng dạy ngôn ngữ, kiến thức về ngôn ngữ học và trình độ ngôn ngữ.
Đối với PCK, nghiên cứu nhấn mạnh 3 yếu tố là kiến thức về giảng dạy và khả năng đánh giá các thành phần của chương trình giảng dạy, kiến thức về phát triển, lập kế hoạch và quản lý việc giảng dạy ngôn ngữ, và kiến thức về xây dựng và đánh giá tài liệu giảng dạy. Kết quả của nghiên cứu này có thể được sử dụng trong việc thiết kế chương trình giáo dục giáo viên Tiếng Anh bậc trung học. [103] Đặc trưng giáo viên ngoại ngữ (Language teacher identtity) gần đây đã trở thành chủ đề nổi bật trong nghiên cứu về GV dạy ngôn ngữ thứ hai (second language teacher) vì đặc trưng GV đóng vai trò chính trong quá trình dạy và thực hành giảng dạy của họ. Đặc trưng giáo viên đề cập đến sự tự nhận thức năng động và trí tưởng tượng của GV về bản thân họ với tư cách là GV, điều này thay đổi khi họ tham gia vào các cộng đồng khác nhau, tương tác với các cá nhân khác và định vị bản thân (và được người khác định vị) trong bối cảnh xã hội.
Do đó, nó có ảnh hưởng đến nhiều vấn đề, từ cách GV sử dụng ngôn ngữ trong lớp học học để thực hiện nghề của họ, cách họ thực hành lý thuyết và lý thuyết hóa thực hành, cách họ giáo dục HS và cách họ tương tác và cộng tác với các đồng nghiệp trong bối cảnh 14 dạy học. (Yazan, 2018) [117] Công trình nghiên cứu “Teacher Identity Construction in English Language Teaching: Learnt from Indonesian Novice English Teacher” (Xây dựng bản sắc giáo viên trong giảng dạy tiếng Anh: Học từ giáo viên tiếng Anh mới vào nghề ở Indonesia) của Najihah và cộng sự (2003) nhằm kiểm tra cấu trúc nhận dạng của các GV mới vào nghề dạy Tiếng Anh ở Indonexia và để hiểu rõ hơn về nỗ lực của họ trong việc phát âm tương đồng với người bản xứ trong việc giảng dạy Tiếng Anh. Trong đó, cách tiếp cận định tính với thiết kế nghiên cứu tường thuật nhằm tìm kiếm cách xây dựng bản sắc GV Tiếng Anh không phải người bản xứ mới vào nghề. Bốn GV tham gia nghiên cứu đã được chọn bằng cách lấy mẫu có chủ đích để làm đại diện.
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhận thức của GV, sự tham gia của họ vào cộng đồng thực hành, các yếu tố bối cảnh, cảm xúc của GV và quá trình của GV có ảnh hưởng đến việc xây dựng bản sắc của GV Tiếng Anh không phải là người bản xứ mới vào nghề. [81] Trong khi đó, nghiên cứu của Chou (2008) nêu bật những bài học sau đây dành cho giáo viên, nhà nghiên cứu và giảng viên. Đầu tiên, thông qua việc tham gia cùng các nhà nghiên cứu, các GV được hướng dẫn để có thể hiểu được sự phát triển nghề nghiệp của chính họ. Thứ hai, làm việc với GV đương nhiệm có thể giúp các nhà nghiên cứu và nhà đào tạo GV hiểu rõ hơn về về cách giảng dạy của họ.
Kiểu hợp tác này mang lại cơ hội cho các nhà nghiên cứu và nhà đào tạo GV tìm hiểu cách thức GV áp dụng lý thuyết vào thực tiễn trong giảng dạy Tiếng Anh. Thứ ba, đi sâu vào bối cảnh làm việc của GV có thể giúp các nhà nghiên cứu và nhà đào tạo GV nhận diện được hiệu quả các chính sách giáo dục đang hoạt động. Cuối cùng, để giảng dạy thành công trong bối cảnh dạy Tiếng Anh như một ngoại ngữ, việc thiết lập một chương trình đào tạo GV Tiếng Anh phù hợp là cần thiết; giúp cho các GV Tiếng Anh có thêm năng lực, kiến thức Tiếng Anh và theo đuổi sự phát triển nghề nghiệp. [49] Bên cạnh đó, nghiên cứu của Brosh (1996) khẳng định rằng các kỹ năng xã hội- tình cảm là một đặc điểm quan trọng trong việc xác định hiệu quả của một giáo viên ngoại ngữ.
Vì vậy, mặc dù các kỹ năng tình cảm - xã hội trùng lặp với kiến thức sư phạm theo nghĩa rộng, nhưng những kỹ năng này vẫn đáng được 15 xem như một phạm trù độc lập tương đối hơn là thuộc phạm trù kiến thức sư phạm. Ở trong nước, tác giả Hùng (2017) nhận định xã hội và ngay chính GV cũng chưa nhận thức đầy đủ về năng lực của một GV Tiếng Anh. Tác giả khẳng định đó chính là một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của việc giảng dạy Tiếng Anh ở Việt Nam. Từ kết quả của nghiên cứu, tác giả khuyến cáo: sinh viên có mong muốn làm GV Tiếng Anh và các GV Tiếng Anh đương nhiệm ngoài năng lực tiếng, cần quan tâm đến việc rèn luyện nhóm các năng lực khác để trau dồi thành một nhà giáo có đủ phẩm chất và năng lực; học sinh, phụ huynh, xã hội, … cần tìm hiểu tham khảo thêm các khung tham chiếu về năng lực giáo viên Tiếng Anh để hiểu rõ hơn các yêu cầu năng lực đối với họ.
[22] Hai tác giả Thao và Lan (2019) thông qua nghiên cứu của mình để tìm hiểu thái độ, sự hiểu biết và những hạn chế nhận thức đối với việc cải cách chương trình giảng dạy giao tiếp ở cấp THPT qua lăng kính của các GV Tiếng Anh THPT. Các phát hiện này cho thấy thái độ tiêu cực hơn là tích cực của GV đối với mục tiêu chương trình giảng dạy, sự hiểu biết chưa đầy đủ của GV về các nguyên tắc dạy Tiếng Anh theo hướng giao tiếp và các rào cản khác nhau cản trở việc thực hiện chương trình giảng dạy ở cấp lớp học.