Dự án STEM tích hợp cho học sinh trường trung học phổ thông dân tộc nội trú

Khám phá cách tổ chức cho học sinh trường trung học phổ thông dân tộc nội trú tham gia dự án giáo dục STEM tích hợp toán, vật lý, địa lý.

Trường đại học

Trường Trung Học Phổ Thông Dân Tộc Nội Trú Số 2 Nghệ An

Chuyên ngành

Giáo Dục STEM

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu

2020

71
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Thời gian nghiên cứu

1.7. Những đóng góp mới của đề tài

1.8. Cấu trúc đề tài

2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1.1. Giáo dục STEM trên thế giới

2.1.2. Giáo dục STEM ở Việt Nam

2.1.3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết trong đề tài

2.2. Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tham gia một số dự án theo giáo dục STEM tích hợp liên môn Toán – Vật lí - Địa lí

2.2.1. Dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh

2.2.1.1. Năng lực
2.2.1.2. Sáng tạo
2.2.1.3. Một số biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập

2.2.2. Giáo dục STEM

2.2.2.1. Quan điểm về giáo dục STEM
2.2.2.2. Mục tiêu giáo dục STEM
2.2.2.3. Phân loại về giáo dục STEM

Tóm tắt

I. Giáo dục STEM và bối cảnh trường dân tộc nội trú

Phần này tập trung vào giáo dục STEM, dự án STEM, và giáo dục STEM cho học sinh dân tộc nội trú. Đề tài nghiên cứu xuất phát từ thực tế học sinh trường trung học phổ thông dân tộc nội trú (học sinh dân tộc nội trú) thường đến từ vùng khó khăn, tiếp cận công nghệ hạn chế, cơ sở vật chất thiếu thốn. Điều này tạo ra thách thức cho việc triển khai dự án STEM. Tuy nhiên, các em lại có nhiều thời gian hoạt động nhóm và tinh thần ham học hỏi, đây là lợi thế cho các dự án STEM thực tiễn. Đề tài nhấn mạnh việc thay đổi nhận thức về giáo dục STEM, không chỉ là lập trình robot, mà còn là việc ứng dụng kiến thức toán học STEM, vật lý STEM, địa lý STEM vào giải quyết vấn đề thực tế. Giải pháp giáo dục STEM cần phù hợp với điều kiện trường học và phát triển năng lực học sinh. Mục tiêu giáo dục STEM hướng đến việc nâng cao năng lực giáo viên trong việc tổ chức dạy học theo hướng giáo dục STEM, và giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự lực, và phát triển năng lực sáng tạo.

1.1 Thực trạng giáo dục STEM tại Việt Nam

Việt Nam đang đẩy mạnh giáo dục STEM, như thể hiện qua các văn bản chỉ đạo, như Chỉ thị 16/CT-TTg về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Chính sách giáo dục STEM được tích hợp vào chương trình giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, việc triển khai vẫn gặp khó khăn. Một số giáo viên cho rằng giáo dục STEM tốn kém, phức tạp và khó thực hiện trong chương trình chính khóa. Nhiều hoạt động thực hành STEM mang tính “cầm tay chỉ việc”, chưa phát huy tối đa tính tích cực, tự lực và năng lực sáng tạo của học sinh. Đào tạo giáo viên STEM là một vấn đề cần được quan tâm. Nguồn tài liệu STEM hiện có cũng cần được bổ sung và cập nhật. Ứng dụng STEM trong giáo dục cần được đa dạng hóa để phù hợp với điều kiện thực tế của các trường học, đặc biệt là các trường dân tộc nội trú.

1.2 Tích hợp liên môn Toán Vật lý Địa lý trong dự án STEM

Các môn toán học STEM, vật lý STEM, địa lý STEM có nhiều điểm liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp liên môn trong dự án STEM. Mục tiêu của đề tài là thiết kế và tổ chức các dự án STEM tích hợp ba môn học này. Phương pháp dạy học dự án được lựa chọn vì tính linh hoạt và khả năng đạt được các mục tiêu học tập cả trong và ngoài giờ học. Dự án STEM tiểu học, dự án STEM trung học nên được thiết kế khác nhau để phù hợp với trình độ học sinh. Dự án STEM sáng tạo khuyến khích học sinh chủ động tìm tòi, khám phá. Việc đánh giá kết quả dự án STEM cần chú trọng đến việc phát triển kỹ năng STEM, năng lực STEMphẩm chất của học sinh. Giáo án STEM, giáo trình STEMphương pháp dạy STEM được thiết kế riêng biệt cho từng dự án.

II. Thiết kế và triển khai dự án STEM

Phần này tập trung vào việc thiết kế và triển khai dự án STEM cụ thể cho học sinh dân tộc nội trú. Lập kế hoạch dự án STEM cần bao gồm các bước: xác định mục tiêu, lựa chọn chủ đề, thiết kế hoạt động, thu thập tài liệu, thực hiện dự án, và đánh giá kết quả. Thực hiện dự án STEM cần tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hoạt động nhóm, khám phá, giải quyết vấn đề và phát triển năng lực sáng tạo. Đánh giá dự án STEM không chỉ dựa trên sản phẩm cuối cùng mà còn dựa trên quá trình học tập, sự hợp tác nhóm và sự phát triển cá nhân của mỗi học sinh. Bài học từ dự án STEM có thể được sử dụng để cải thiện chương trình giảng dạy và phương pháp dạy học trong trường. Kinh nghiệm dự án STEM này đóng góp vào việc xây dựng các mô hình giáo dục STEM hiệu quả cho trường dân tộc nội trú.

2.1 Chọn chủ đề dự án STEM phù hợp

Chọn chủ đề dự án STEM phù hợp với điều kiện thực tế của trường dân tộc nội trú là rất quan trọng. Chủ đề cần liên quan đến đời sống thực tiễn của học sinh, dễ dàng tiếp cận tài liệu và thực hiện. Việc tích hợp toán vật lý địa lý trong chủ đề cần được tính toán kỹ lưỡng để đảm bảo tính khoa học và sự hấp dẫn đối với học sinh. Dự án STEM thực tiễn nên được thiết kế để giải quyết những vấn đề cụ thể trong cộng đồng hoặc trường học. Dự án STEM cấp trung học có thể tập trung vào những vấn đề phức tạp hơn so với dự án STEM cấp tiểu học. Việc xây dựng bài tập STEM cũng cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo tính khoa học và sự phù hợp với trình độ học sinh.

2.2 Quản lý và đánh giá dự án

Quản lý dự án STEM cần sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên, học sinh và phụ huynh. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh lập kế hoạch, thực hiện và báo cáo kết quả. Học sinh cần được khuyến khích chủ động, sáng tạo và làm việc nhóm hiệu quả. Phụ huynh cần hỗ trợ học sinh về mặt vật chất và tinh thần. Đánh giá dự án STEM cần dựa trên nhiều tiêu chí, bao gồm: sản phẩm, quá trình, sự hợp tác nhóm, và sự phát triển năng lực của học sinh. Thách thức trong dự án STEM có thể được giải quyết bằng cách tăng cường hỗ trợ từ nhà trường, cộng đồng và các tổ chức liên quan. Hỗ trợ dự án STEM có thể bao gồm: cung cấp tài liệu, thiết bị, và đào tạo giáo viên. Tài nguyên dự án STEM cần được khai thác tối đa để tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh.

III. Kết luận và kiến nghị

Kết luận khẳng định tầm quan trọng của giáo dục STEM trong việc phát triển năng lực học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc nội trú. Dự án STEM được thiết kế phù hợp đã mang lại hiệu quả tích cực. Đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy việc triển khai giáo dục STEM trong trường dân tộc nội trú, bao gồm: tăng cường đào tạo giáo viên STEM, cung cấp nguồn tài liệu STEM phong phú, xây dựng mô hình giáo dục STEM phù hợp, và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tham gia các hoạt động thực hành STEM. Giáo dục vùng sâu vùng xa cần có sự quan tâm đặc biệt. Việc xây dựng chính sách giáo dục STEM phải đảm bảo tính khả thi và sự công bằng.

31/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề (03 trang); Phần nội dung (45 trang), bao gồm 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu, 2. Cơ sở lí luận và thực tiển, 3. Kết quả nghiên cứu; Phần kết luận và kiến nghị (02 trang); Tài liệu tham khảo (01 trang); 04 Phụ lục (22 trang).

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Giáo dục STEM trên thế giới Dạy học theo định hướng phát triển năng lực được quan tâm từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Dạy học STEM cũng gắn chặt với mục tiêu theo định hướng phát triển năng lực.

Đối với STEM, trên toàn thế giới, các nước đều đã và đang phát triển mạnh mẽ. Tại Mỹ đầu những năm 90, đã hình thành xu hướng giáo dục mới gọi là giáo dục STEM. Trong chương trình giáo dục STEM, các môn học về khoa học công nghệ không giảng dạy độc lập mà tích hợp lại với nhau thành một môn học thông qua phương pháp giảng dạy bằng dự án, trải nghiệm, thực hành.Tại Pháp thì giáo dục STEM được bao phủ ở mọi cấp học. Trong giai đoạn chính của bậc tiểu học, học sinh được học về Toán học, Khoa học tự nhiên và công nghệ.

HS đã được tham gia các hoạt động trải nghiệm nghiên cứu nhằm thúc đẩy sự quan tâm của các em về Khoa học và Công nghệ. Tại Anh, giáo dục STEM đã được phát triển thành một chương trình quốc gia với mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Chương trình hành động của Anh nhằm thúc đẩy giáo dục STEM bao gồm tuyển dụng giáo viên giảng dạy STEM; bồi dưỡng nâng cao của giáo viên; cải tiến và làm phong phú chương trình học trong và ngoài lớp học; phát triển cơ sở vật chất hỗ trợ cho việc dạy học. Giáo dục STEM ở Việt Nam Trong những năm qua đã có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện đổi mới giáo dục trong đó có liên quan đến giáo dục STEM được ban hành, cụ thể như: Nghị quyết 29-BCHTW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; chỉ thị số 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đề ra những giải pháp, nhiệm vụ thúc đẩy giáo dục STEM tại Việt Nam, với chỉ thị trên, Việt Nam đã chính thức ban hành chính sách thúc đẩy giáo dục STEM trong chương trình GDPT, tạo điều kiện để liên kết các sáng kiến và hoạt động giáo dục STEM đơn lẻ hiện nay.

Từ năm 2012, Bộ GD&ĐT hàng năm đã tổ chức cuộc thi “Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho HS trung học”. Đặc biệt cuộc thi “Khoa học kỹ thuật dành cho HS trung học” do Bộ GD&ĐT tổ chức dành cho HS phổ thông đã trở tành điểm sáng tích cực trong giáo dục định hướng năng lực. Các cuộc thi này là một ví dụ cho mục tiêu giáo dục nhằm phát triển năng lực HS, hình thành những kĩ năng học tập và lao động trong thế kỷ 21 và đây cũng chính là mục tiêu của giáo dục STEM hướng tới. Năm 2015, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Liên minh STEM tổ chức ngày hội STEM lần đầu tiên, tiếp theo đó là nhiều sự kiện tương tự trên toàn quốc đã diễn ra.

Hàng ngàn lượt giáo viên và hàng trăm ngàn lượt học sinh được tham gia các khóa học ngắn hạn hoặc dạy và học trong skkn 4 các chương trình ngoại khóa/chính khóa. Một số tác giả đã biên soạn tài liệu về giáo dục STEM như: “ Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề STEM cho học sinh THCS và THPT” của Nguyễn Thanh Nga (chủ biên), “Giáo dục STEM trong nhà trường phổ thông” của Nguyễn Văn Biên, Tưởng Duy Hải (đồng chủ biên)…Ngoài ra, còn có nhiều bài báo khoa học, các sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên cũng đã đề cập tới việc tổ chức dạy học theo định hướng giáo dục STEM ở các cấp học. Trong Chương trình GDPT mới, vai trò của giáo dục STEM được chú trọng và thể hiện ở những điểm như: Có đầy đủ các môn học STEM; cải thiện rõ rệt vị trí của giáo dục tin học và giáo dục công nghệ; yêu cầu dạy học tích hợp và đổi mới phương pháp giáo dục của Chương trình GDPT mới, tạo điều kiện tổ chức các chủ đề STEM trong chương trình môn học, góp phần phát triển năng lực vận dụng kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn cho học sinh; tính mở của Chương trình GDPT mới cho phép một số nội dung giáo dục STEM có thể được xây dựng thông qua nội dung giáo dục của địa phương, kế hoạch giáo dục của nhà trường và những hoạt động giáo dục được xã hội hoá. Như vây, từ những dẫn chứng ở trên có thể thấy rằng mô hình giáo dục STEM đã được phổ biến ở nhiều địa phương trên cả nước, Trong đó, giáo dục STEM gắn liền với việc tích hợp nhiều kiến thức môn học khác nhau (trong đó có các môn như toán, vật lí, địa lí…), và việc tổ chức dạy học theo giáo dục STEM khá đa dạng bằng nhiều phương pháp và hình thức như: Dạy học dự án, dạy học trải nghiệm sáng tạo, tổ chức ngày hội STEM… 2.

Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết trong đề tài 1) Trong các tài liệu khoa học giáo dục, có nhiều quan điểm về giáo dục STEM. Vì vậy, cần phải làm sáng tỏ khái niệm và nội hàm, đặc điểm, đặc trưng của giáo dục STEM. 2) Tổ chức học cho học sinh THPT DTNT tham gia một số dự án theo giáo dục STEM tích hợp liên môn Toán – Vật lí - Địa lí như thế nào, theo phương pháp dạy học nào để cho phù hợp với đối tượng HS và điều kiện của nhà trường hiện nay. Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tham gia một số dự án theo giáo dục STEM tích hợp liên môn Toán – Vật lí - Địa lí 2.

Dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh a. Năng lực Năng lực được các nhà tâm lý học đưa ra những định nghĩa khác nhau nhưng nội hàm của chúng đều phản ánh: Năng lực là thuộc tính tâm lý của cá nhân, coi đó là điều kiện của hoạt động; năng lực là yếu tố tổ hợp trong một hoạt động cụ thể tạo thành những điều kiện để tác động vào đối tượng của hoạt động [4], [6], [9]. Trong đổi mới, phát triển giáo dục /dạy học, chúng tôi sử dụng định nghĩa: “Năng lực là skkn 5 khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…” [8, tr. * Phân loại năng lực, có nhiều cách phân loại năng lực khác nhau, có thể có các năng lực sau: Năng lực chung và năng lực chuyên môn [2], [6]: b.

Sáng tạo - Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị” (Sáng tạo. Bách khoa toàn thư Liên Xô. Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có [5]. - Các loại hình sáng tạo: Trong khoa học kĩ thuật, sản phẩm của sáng tạo là các “phát kiến” và “phát minh”.

Phát kiến là một sự xác lập những quy luật, những thuộc tính, những hiện tượng chưa biết trước đây, tồn tại một cách khách quan của thế giới vật chất. Phát minh là một cách giải quyết mới mẻ một nhiệm vụ trong bất kỳ một lĩnh vực nào kinh kế quốc dân, văn hóa, y tế hay quốc phòng mang lại một hiệu quả tích cực. Năng lực sáng tạo Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới. Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể.

Trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, nhiều phương án để lựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển. Bởi vậy, không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời, độc lập với học kiến thức về một lĩnh vực nào đó. Cấu trúc năng lực sáng tạo Phát hiện vấn đề, Sản phẩm đề xuất giải pháp - có tính mới Sáng - có giá trị tạo và giải quyết hiệu - Có ý nghĩa quả xã hội Sơ đồ cấu trúc năng lực sáng tạo trong hoạt động nhận thức của học sinh + Năng lực sáng tạo của nhà khoa học và năng lực sáng tạo của học sinh Hoạt động NCKH của nhà Hoạt động học tập của HS khoa học Động Rõ ràng, mạnh mẽ, tính tự Không phải vấn đề nào cũng lôi cơ giác cao cuốn được HS chú ý, gây được nhu skkn 6 cầu, hứng thú, tập trung sức lực, trí tuệ; chưa bền vững. Phát minh – sáng chế tìm ra Thực hiện nhiệm vụ học tập vật lí, cái mới, giải pháp mới cho xã tiếp thu kiến thức, kĩ năng, phương hội mà trước đó nhân loại chưa pháp nhận thức vật lí, kinh nghiệm Mục hề biết đến hoạt động sáng tạo và vận dụng tri đích thức vào thực tiễn, những nội dung tri thức và ứng dụng đã được xã hội biết đến.

Có năng lực tư duy phát Trong các hành động học khó khăn, Năng triển, có nhiều khả năng tự lực hạn chế, nhiều khi không đủ sức giải lực TTNC, có vốn tri thức - kĩ năng quyết những vấn đề khoa học được hành - Kinh nghiệm sáng tạo, có đặt ra trong bài học động phương pháp nhận thức phong phú - Có điều kiện lí tưởng về cơ sở - Phương tiện, thiết bị, dụng cụ TN vật chất, thiết bị, dụng cụ TN; không đắt tiền, đơn giản, dễ sử dụng, có hoặc có thể tạo ra các phương độ chính xác không cao Phương tiện kĩ thuật mới nhất để thực tiện, hiện nhiệm vụ nghiên cứu. điều kiện, - Có nhiều thời gian (không đặc hạn chế) để suy nghĩ, thực hiện - HS làm việc trong thời gian ngắn có khi hàng năm. tính theo phút trong một tiết học điểm - Chủ yếu làm việc độc lập - TTNC dưới sự hướng dẫn của GV, sự theo ý mình giúp đỡ của bạn bè trong nhóm. Bảng hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà khoa học với hoạt động học tập của HS e.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Dự án STEM cho học sinh trường dân tộc nội trú: Tích hợp toán, vật lý, địa lý" trình bày một dự án giáo dục sáng tạo nhằm kết hợp các môn học như toán, vật lý và địa lý để nâng cao khả năng tư duy và giải quyết vấn đề cho học sinh. Dự án không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng thực hành mà còn khuyến khích sự sáng tạo và hợp tác trong học tập. Qua đó, học sinh sẽ có cơ hội áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, từ đó tạo ra những sản phẩm hữu ích cho cộng đồng.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các phương pháp dạy học tích hợp và phát triển năng lực cho học sinh, hãy tham khảo bài viết Skkn dạy học dự án sản xuất son môi từ thiên nhiên theo định hướng giáo dục steam. Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng phương pháp STEAM trong giáo dục.

Ngoài ra, bạn cũng có thể khám phá bài viết Luận văn thạc sĩ hcmute phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 4 trong môn khoa học tại các trường tiểu học quận thủ đức thành phố hồ chí minh, nơi trình bày các chiến lược giúp học sinh lớp 4 phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động học tập thực tiễn.

Cuối cùng, bài viết Skkn phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí ở trường thpt sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách tổ chức các hoạt động ngoại khóa để tăng cường sự hứng thú và khả năng học tập của học sinh trong môn vật lý. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về giáo dục STEM và các phương pháp dạy học hiện đại.