Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Thiết kế một số kế hoạch dạy học có sử dụng các trò chơi online để tạo hứng thú học tập nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học hóa học 10 học kì I THPT. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 3 skkn NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Cơ sở lý luận về động lực học, năng lực và năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông. Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TW đảng lần thứ 8 đã nhấn mạnh “Đổi mới căn bản, toàn diện về GD & ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, “Phát triển phẩm chất năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp”. Mục tiêu của giáo dục phổ thông mới theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được Bộ GD & ĐT công bố ngày 5/8/2015 là giúp HS hình thành phẩm chất và năng lực người lao động.
Theo đó, có 3 phẩm chất cần hình thành và phát triển cho học sinh THPT là: sống yêu thương, sống tự chủ, sống trách nhiệm, 8 năng lực cần hình thành và phát triển cho HS là: NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL tự học, NL thẩm mỹ, NL thể chất, NL giao tiếp, NL hợp tác, NL tính toán, NL sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Như vậy, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo là một trong các NL cốt lõi cần hình thành và phát triển cho HS trong quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Hóa học nói riêng. Để phát triển năng lực này thì vấn đề taọ cho HS một hứng thú, động lực học tập là vô cùng quan trọng, nó kích thích sự ham mê học hỏi, tìm tòi, phám khá đối với môn học và tạo nên hiệu quả cao trong quá trình dạy học. Động lực học và các biện pháp thức đẩy hứng thú học tập cho học sinh “Biết mà học không bằng thích mà học.
Thích mà học không bằng vui say mà học” Từ xưa, vấn đề học tập đã khẳng định: sự học sẽ có kết quả tốt khi người học có sự yêu thích, say mê đối với những kiến thức mình muốn tìm hiểu. Đó chính là hứng thú học tập. Hứng thú là hình thức biểu hiện tình cảm và nhu cầu nhận thức của con người nhằm ý thức một cách hào hứng về mục đích hoạt động, nhằm tìm hiểu sâu hơn, phản ánh đầy đủ hơn đối tượng trong đời sống. Nó phản ánh thái độ, sự quan tâm đặc biệt của người học đối với đối tượng do tính hấp dẫn hoặc do ý thức được tầm quan trọng của đối tượng.
Hứng thú tạo nên khát vọng được tiếp cận và đi sâu vào đối tượng, làm nảy sinh cảm xúc tích cực (hài lòng, phấn khởi, yêu thích…) nâng cao sức tập trung chú ý và khả năng làm việc.Và khi được làm việc phù hợp với hứng thú, dù phải vượt qua khó khăn, con người vẫn cảm thấy thoải mái và sẽ đạt hiệu quả cao. Sự vui say trong học tập chính là hứng thú tạo nên động lực học tập tốt cho học sinh. Nó phản ánh thái độ quan tâm của người học đối với vấn đề học tập do ý thức được 4 skkn tầm quan trọng của việc học bộ môn đó. Động lực sẽ tạo cho học sinh khát vọng vươn lên muốn chiếm lĩnh kiến thức và ứng dụng tốt các kiến thức đó để nâng cao các năng lực cho bản thân như năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực tự lực, tự khẳng định, tự định hướng và tự khẳng định…Trong quá trình học tập, tính tích cực nhận thức luôn có quan hệ chặt chẽ với hứng thú nhận thức.
Hứng thú nhận thức là yếu tố có ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá trình dạy học mà còn cả đối với sự phát triển toàn diện nhân cách của học sinh. Hứng thú là yếu tố quan trọng, quyết định sự tham gia tích cực của học sinh trong quá trình dạy học dẫn đến sự tự giác đảm bảo sự hình thành, phát triển tính tích cực, độc lập sáng tạo trong học tập. Một số biện pháp để thúc đẩy hứng thú, động lực học cho học sinh: - Câu hỏi mở: Đây là một trong những phương pháp hữu hiệu giúp học sinh đưa ra các giải pháp sáng tạo. Đưa ra các câu hỏi mở giúp học sinh có thể suy nghĩ theo quan điểm cá nhân, từ đó thử thách sự sáng tạo của bản thân mình.
Các câu hỏi mở cũng tạo điều kiện để những học sinh kém hơn có thể tham gia và đưa ra câu trả lời mà không bị bỏ lại phía sau. - Làm việc theo nhóm: Động lực học tập cũng đến từ cảm giác “thuộc về” – nghĩa là học sinh cảm thấy mình là một phần của một đội nhóm, một cộng đồng và có trách nhiệm với cộng đồng đó. Các hoạt động làm việc theo nhóm giúp học sinh hiểu hơn mọi người xung quanh và tìm cách để đàm phán, đưa ra giải pháp chung cho cả nhóm. Nó cũng mang đến cho học sinh cơ hội để bày tỏ quan điểm cá nhân, cảm thấy thoải mái, được lắng nghe và tôn trọng.
- Cạnh tranh tích cực: Các cuộc thi, trò chơi mang tính cạnh tranh là cách để tạo động lực học tập hiệu quả cho học sinh. Nó không chỉ thúc đẩy học sinh làm việc chăm chỉ hơn, nỗ lực nhiều hơn trong quá trình học tập mà còn dạy cho học sinh cách tôn trọng và chấp nhận thành công của người khác, kiểm soát cảm xúc cá nhân. - Trò chơi tạo động lực: Có rất nhiều trò chơi mà giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi theo nhóm, cả lớp hoặc cá nhân. Giáo viên có thể tổ chức các trò chơi trong hoạt động chuyển tiếp, các tiết trống hoặc những khoảnh khắc học sinh cảm thấy mệt mỏi.
- Cơ hội dẫn đầu: Một vai trò lãnh đạo luôn đi kèm với đó là các trách nhiệm và cam kết. Nó thậm chí có thể thay đổi tính cách của học sinh và giúp chúng làm việc tích cực và hiệu quả hơn. Hãy giao cho học sinh cơ hội được làm “lãnh đạo”, “thủ lĩnh” trong các hoạt động của lớp. Điều này sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy học sinh đảm nhận những vai trò mới mang tính thử thách trong cuộc sống.
- Đối mặt với thất bại: Việc cho phép học sinh được trải nghiệm, thử và sai, được làm lại và học hỏi từ những sai lầm khiến học sinh có động lực học tập tích cực hơn. Giáo viên cần giúp học sinh cách tập trung vào các nhiệm vụ và quá trình học tập hơn là nỗi lo sợ thất bại. - Theo dõi tiến độ: Con người ta sẽ không làm điều gì đó mà không thấy kết quả. Con người ta cũng rất dễ cảm thấy nản chí khi làm mãi mà không biết mình đang ở đâu, 5 skkn cần làm gì để có sự tiến bộ.
Giáo viên sẽ thiết lập một lộ trình cần đạt của một năm hoặc một học kì, mỗi thời điểm giáo viên lại cho học sinh dừng lại, suy ngẫm và chỉ ra mức độ mà học sinh đang đạt được. Bằng cách này, học sinh sẽ nhìn thấy được sự tiến bộ, phát triển đi lên của bản thân và có thêm động lực học tập. Năng lực và vấn đề phát triển năng lực 1. Khái niệm về năng lực Năng lực là một phạm trù mà hiện nay có rất nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau: Năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện một loạt công việc trong một bối cảnh nhất định.
Năng lực của cá nhân được đánh giá qua các phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy. Như vậy năng lực có thể hiểu là sự thực hiện đạt hiệu quả cao một hoạt động (công việc) cụ thể trong một lĩnh vực cụ thể, năng lực được hình thành dựa vào tố chất sẵn có của cá nhân. Thông qua quá trình rèn luyện, học tập và thực hành năng lực ngày càng phát triển, hoàn thiện đảm bảo cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong một lĩnh vực cụ thể tương ứng với năng lực mà mình có.
Năng lực của học sinh là một cấu trúc động, có tính mở, là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ vào các tố chất và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kinh nghiệm, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện đạt kết quả các hoạt động trong những điều kiện cụ thể. Cấu trúc năng lực Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đã xác định mục tiêu hình thành và phát triển cho HS các NL cốt lõi gồm các NL chung và các NL đặc thù. a) Các năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua các môn học và HĐGD tạo tiền đề và là cơ sở cần thiết trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Đây là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất cứ một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. Các hoạt động giáo dục đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung cho học sinh. Các năng lực này được hình thành và phát triển trong quá trình học ở trường phổ thông. b) Các năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ và NL thể chất.
Mỗi môn học đòi hỏi cần hình thành và phát triển năng lực đặc thù môn học riêng.