Đặt vấn đề mở, độc lập tìm hiểu, diễn biến mở của giờ học và nuôi dưỡng các con đường, giải pháp khác nhau. Phân hóa nội tại: Có các con đường tiếp cận khác nhau, có sự phân hóa bên trong và gắn với các tình huống, bối cảnh bên ngoài. Bài tập thực tiễn trong dạy học Hóa học 1. Khái niệm bài tập hóa học, bài tập thực tiễn Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: “Bài tập là bài ra cho HS làm để vận dụng kiến thức đã học, còn bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học.
BT Hóa học là những vấn đề học tập được giải quyết bằng những suy nghĩ logic, những phép toán và những thí nghiệm hóa học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và PP hóa học”. BT Hóa học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về Hóa học mà trong khi hoàn thành chúng HS nắm được một tri thức hay một kĩ năng nhất định. BT Hóa học là nhiệm vụ mà GV đặt ra cho người học, buộc người học vận dụng các kiến thức, kĩ năng, năng lực của mình để giải quyết nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách tích cực, chủ động, hứng thú và sáng tạo; tăng cường và định hướng hoạt động tư duy của HS. BT thực tiễn là những BT có nội dung Hóa học xuất phát từ thực tiễn, đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức, kĩ năng Hóa học cùng với các kiến thức của các môn học khác kết hợp với kinh nghiệm, kĩ năng sống để giải quyết một số vấn đề đặt ra từ những bối cảnh và tình huống nảy sinh từ thực tiễn.
Vai trò, chức năng của bài tập thực tiễn trong dạy học Trong dạy học, BT thực tiễn góp phần thực hiện các nhiệm vụ của môn Hóa học, ngoài ra còn có những vai trò và chức năng sau: 10 skkn BT thực tiễn là PPDH có hiệu quả cao trong việc rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức hóa học để giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn; được giữ vai trò quan trọng trong mọi khâu, mọi loại bài dạy Hóa học. Nó còn được nâng cao hơn khi được sử dụng là nguồn kiến thức để HS tìm tòi chứ không đơn thuần là tái hiện kiến thức. BT thực tiễn vừa là mục đích, vừa là nội dung của việc dạy và học Hóa học. Nó có chức năng DH, giáo dục, kiểm tra và phát triển.
Đối với HS, BT thực tiễn góp phần hình thành PP học tập trong DH phát hiện và giải quyết vấn đề hiệu quả, giúp HS nắm vững kiến thức, phát triển tư duy và hình thành năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn, từ đó làm giảm nhẹ sự nặng nề căng thẳng của khối lượng kiến thức lí thuyết và tạo hứng thú say mê học tập cho HS. Đối với GV, BT thực tiễn là nguồn kiến thức, phương tiện để GV tổ chức các hoạt động học tập; giúp HS tìm tòi, phát hiện vấn đề, tích cực hóa các hoạt động học tập của HS trong quá trình dạy học. Như vậy BT thực tiễn là một trong những phương tiện hiệu nghiệm để tổ chức hướng dẫn HS vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn, học tập và nghiên cứu khoa học. BT thực tiễn có đầy đủ các vai trò, chức năng của một BT Hóa học, ngoài ra còn có thêm một số tác dụng khác, như: Về kiến thức: Thông qua BT thực tiễn, HS hiểu kĩ hơn các kiến thức Hóa học, đồng thời củng cố kiến thức một cách thường xuyên và hệ thống; mở rộng sự hiểu biết hiểu biết về thiên nhiên, môi trường sống và các lĩnh vực khác nhau trong đời sống.
Ngoài ra BT thực tiễn còn giúp HS bước đầu biết vận dụng kiến thức để lí giải và cải tạo thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Về kĩ năng: Rèn luyện và phát triển cho HS NL nhận thức, NL phát hiện và GQVĐ liên quan đến thực tiễn đời sống. Rèn luyện và phát triển các kĩ năng thu thập và xử lí thông tin, vận dụng kiến thức để giải quyết những tình huống có vấn đề trong thực tiễn cuộc sống một cách linh động, sáng tạo. Về giáo dục tư tưởng: Rèn cho HS tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, sáng tạo trong học tập cũng như trong quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học bộ môn hóa học từ đó tạo động cơ học tập tích cực, kích thích trí tò mò, óc quan sát, sự ham hiểu biết, làm tăng hứng thú học tập và từ đó có thể làm cho HS say mê nghiên cứu khoa học giúp định hướng nghề nghiệp cho HS trong tương lai. Giáo dục kĩ thuật tổng hợp: BT thực tiễn còn cung cấp cho HS những số liệu của kĩ thuật, số liệu mới về năng suất, sản lượng ngành sản xuất … giúp HS cập nhật được sự phát triển của khoa học, kĩ thuật. Phân loại bài tập thực tiễn Có nhiều cách phân loại BT thực tiễn tùy theo việc lựa chọn cơ sở phân loại 11 skkn chúng. Có thể dựa trên các cơ sở sau: Phân loại BT thực tiễn dựa trên nội dung: - BT định tính: là các dạng BT có liên hệ với sự quan sát để mô tả, giải thích các hiện tượng Hóa học.
Ví dụ: Vì sao ban đêm không nên để cây xanh trong nhà? Vì sao sau mỗi trận mưa giông không khí lại trở nên trong lành hơn? Vì sao không nên đổ nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể đổ axit sunfuric đậm đặc vào nước? - BT định lượng: là các dạng BT cần dùng các kĩ năng hóa học kết hợp với kĩ năng toán học để giải BT. - BT thực nghiệm: là các dạng BT có liên quan đến kĩ năng thực hành Hóa học. - BT tổng hợp: là các dạng BT bao gồm cả kiến thức định tính và kiến thức định lượng. Phân loại BT thực tiễn dựa vào lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung bài tập: - BT về sản xuất Hoá học.
- BT về các vấn đề trong đời sống, học tập và lao động sản xuất. Bao gồm các dạng. Giải quyết các tình huống có vấn đề trong quá trình làm thực hành, thí nghiệm như: Sử dụng dụng cụ thí nghiệm, sử dụng hoá chất hợp lí, xử lí tai nạn xảy ra, phòng chống độc hại, ô nhiễm trong khi làm thí nghiệm. Sử dụng và bảo quản các hoá chất, sản phẩm Hoá học trong ăn uống, chữa bệnh, giặt giũ, tẩy rửa…Sơ cứu tai nạn do hoá chất.
Giải thích các hiện tượng, tình huống có vấn đề nảy sinh trong đời sống, lao động sản xuất. - BT có liên quan đến môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường. Mỗi lĩnh vực thực tiễn trên lại bao gồm tất cả các loại bài tập định tính, định lượng, tổng hợp; bài tập lí thuyết, bài tập thực hành. Phân loại BT thực tiễn theo mục tiêu sử dụng.
Có thể chia BT thành 2 loại: BT học và BT đánh giá (kiểm tra, thi). Phân loại BT thực tiễn dựa vào hình thức - BT tự luận (TNTL): Khi làm bài HS phải viết hay trình bày câu trả lời, phải lí giải, lập luận, chứng minh bằng ngôn ngữ của mình. - BT trắc nghiệm (TNKQ): Khi làm bài HS chỉ phải đọc, suy nghĩ để lựa chọn đáp án đúng trong số các đáp án đã cho (không cần lí giải, lập luận hay chứng minh). Phân loại BT thực tiễn dựa vào mức độ nhận thức của HS.
Căn cứ vào chất lượng của quá trình lĩnh hội và kết quả học tập, GS. Nguyễn Ngọc Quang đã đưa ra 4 trình độ lĩnh hội (4 mức độ) như sau: 12 skkn - Mức 1(biết): Chỉ yêu cầu HS tái hiện kiến thức để trả lời câu hỏi lí thuyết. - Mức 2 (hiểu): Yêu cầu HS vận dụng kiến thức để giải thích được các sự kiện, hiện tượng của câu hỏi lí thuyết. - Mức 3 (vận dụng): Yêu cầu HS vận dụng kiến thức Hoá học để giải thích những tình huống xảy ra trong thực tiễn.
- Mức 4 (vận dụng ở mức độ cao): Yêu cầu HS vận dụng kiến thức, kĩ năng Hoá học để giải quyết những tình huống thực tiễn hoặc để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học nhỏ, đơn giản, đề ra kế hoạch hành động cụ thể, viết báo cáo. Từng mức độ trên có thể được chia làm nhiều mức độ nhỏ hơn nữa để phù hợp với trình độ của HS đồng thời cũng thể hiện sự phân hoá trình độ HS. Cơ sở thực tiễn: Thực trạng của việc sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học hóa học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn cho học sinh trung học phổ thông. Mục đích điều tra Đánh giá thực trạng của việc sử dụng BT thực tiễn trong DH Hóa học để phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn của HS ở trường THPT.
Tìm hiểu mức độ đạt được về năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn của HS trong DH. Tìm hiểu về nhận thức và biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn cho HS của GV trong trường THPT. Đối tượng và nội dung điều tra 1. Đối tượng điều tra GV dạy bộ môn Hóa học các trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa đàn và Thị xã Thái hòa.
HS khối 10,11,12 thuộc các trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa đàn, Thị xã Thái hòa. Nội dung điều tra Nội dung điều tra được thể hiện ở phiếu điều tra (Phụ lục 1) và tập trung vào các vấn đề: - Ý kiến của GV về việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn cho HS và những biện pháp sử dụng để phát triển NL này trong DH Hóa học. - Mức độ đạt được của năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn của HS tại lớp mình dạy và những khó khăn, thuận lợi của việc xây dựng và sử 13 skkn dụng BTTT trong DHHH để phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học cho HS. - Hứng thú của HS khi giải quyết vấn đề thực tiễn có liên quan đến môn học.
- Ý kiến của HS về sự cần thiết của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học thông qua BT thực tiễn và thực trạng năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn của mình. Phương pháp và tiến hành điều tra Xây dựng phiếu điều tra: Dùng để điều tra cho 2 đối tượng là GV và HS của các trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa đàn, Thị xã Thái hòa.