MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, cuộc cách mạng Khoa học - công nghệ 4.0 trong thời kỳ toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc. Nhiều tri thức và công nghệ mới ra đời đòi hỏi quá trình giáo dục phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, suốt đời để người lao động có thể thích nghi được với những biến đổi mới của Khoa học – công nghệ. Trong giáo dục, khi mà ngày nay, tri thức thay đổi và bị lạc hậu nhanh chóng, việc quy định cứng nhắc những nội dung chi tiết trong chương trình dạy học dẫn đến tình trạng nội dung chương trình dạy học nhanh bị lạc hậu so với tri thức hiện đại.
Chương trình dạy học định hướng nội dung dẫn đến xu hướng việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựa trên việc kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà không định hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn. Do đó chương trình giáo dục này không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Xu hướng chung của các nước hiện nay là chuyển đổi từ chương trình theo định hướng nội dung thành chương trình theo định hướng PTNL người học. Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đặt ra mục tiêu cụ thể đối với giáo dục phổ thông.
Trong đó, nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, NL và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.” Mới đây nhất là căn cứ Điều 2 Luật Giáo dục 2019 (có hiệu lực từ 01/07/2020) quy định về mục tiêu giáo dục, cụ thể như sau: “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, NL và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.” Dựa vào những -1- Luan van mục tiêu đã đặt ra như trên có thể nói rằng việc xác định mục tiêu giáo dục theo hướng PTNL cho HS luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm. Theo nghiên cứu về nhân lực Việt Nam của Ngân hàng Thế giới (Word bank) tháng 11/2013, 80% cho vị trí cán bộ chuyên môn, 83% ứng viên cho vị trí kĩ thuật viên và 43% ứng viên cho vị trí lao động thủ công thiếu các NL cần thiết, trong đó NL GQVĐ là NL mà tất cả các ứng viên điều thiếu hụt. Vì vậy, việc PTNL GQVĐ cho HS là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình dạy học. (Ngọc Châu Vân, 2016) Theo Thuyết phát sinh nhận thức và trí tuệ của J.
Piaget, trẻ em ở các độ tuổi khác nhau sẽ có các giai đoạn phát triển trí tuệ khác nhau. Trẻ tiểu học từ 7 đến 11 hoặc 12 tuổi là giai đoạn thao tác cụ thể. Trẻ không còn bị đánh lừa bởi hình thức bên ngoài. Bằng cách dựa vào các thao tác nhận thức, trẻ hiểu được những đặc tính và những mối liên hệ cơ bản giữa các đối tượng và các sự kiện trong cuộc sống hằng ngày.
Trẻ ở giai đoạn này có được và sử dụng các thao tác nhận thức (những hành động tinh thần, hay những thành phần của suy nghĩ logic) trên các vật thật. Chính vì thế, nội dung môn Khoa học ở tiểu học chính là sự tích hợp các môn học Khoa học tự nhiên, Khoa học sức khỏe và giáo dục môi trường giúp trẻ có sự quan sát, dự đoán, giải thích các sự vật, hiện tượng tự nhiên đơn giản và kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Trên cơ sở kế thừa và phát triển môn Tự nhiên và xã hội (ở lớp 1, 2, 3), môn Khoa học (ở các lớp 4, 5) được xây dựng dựa trên nền tảng cơ bản, ban đầu của Khoa học tự nhiên và các lĩnh vực nghiên cứu về giáo dục sức khỏe, giáo dục môi trường. Môn học đóng vai trò quan trọng trong việc giúp HS học tập môn Khoa học tự nhiên ở cấp Trung học cơ sở và các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học ở cấp Trung học phổ thông.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để học môn Khoa học một cách Khoa học nhất? Trên cơ sở kế thừa và phát triển môn Tự nhiên và xã hội (ở lớp 1, 2, 3), môn Khoa học (ở các lớp 4, 5) được xây dựng dựa trên nền tảng cơ bản, ban đầu của Khoa học tự nhiên và các lĩnh vực nghiên cứu về giáo dục sức khỏe, giáo dục môi trường. Môn Khoa học tự nhiên góp phần hình thành, phát triển các NL chung quy định trong Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể và góp phần hình thành và phát triển được -2- Luan van các NL tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, GQVĐ và sáng tạo. Qua môn học, HS bước đầu vận dụng kiến thức Khoa học tự nhiên và kĩ năng đã học vào GQVĐ của một số tình huống đơn giản trong thực tiễn; mô tả, dự đoán, giải thích được các hiện tượng Khoa học đơn giản; ứng xử thích hợp trong một số tình huống có liên quan đến vấn đề bản thân, gia đình và cộng đồng; trình bày được ý kiến cá nhân nhằm vận dụng kiến thức đã học vào bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững. Trong trường tiểu học, PTNL GQVĐ cho HS lớp 4 chưa được quan tâm do đó, việc PTNL GQVĐ cho HS lớp 4 chưa được chú trọng rèn luyện.
Chính vì vậy, người nghiên cứu chọn làm đề tài nghiên cứu với nội dung là “PTNL GQVĐ cho HS lớp 4 trong môn Khoa học tại các trường tiểu học quận Thủ Đức, TP. Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất các biện pháp tổ chức dạy học PTNL GQVĐ cho HS lớp 4 trong môn Khoa học. Nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Nghiên cứu sơ sở lý luận về NL GQVĐ và PTNL GQVĐ cho HS lớp 4 trong môn Khoa học.2 Khảo sát thực trạng PTNL GQVĐ của HS và định hướng PTNL GQVĐ cho HS lớp 4 trong môn Khoa học tại các trường tiểu học quận Thủ Đức, TP.3 Đề xuất cách thức tổ chức dạy học PTNL GQVĐ phù hợp với nội dung môn Khoa học lớp 4 tại các trường tiểu học quận Thủ Đức, TP. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu NL GQVĐ và PTNL GQVĐ cho HS lớp 4 trong môn Khoa học.2 Khách thể nghiên cứu Quá trình dạy học môn Khoa học lớp 4.
Giả thuyết nghiên cứu Dạy học PTNL GQVĐ hiện nay trong môn Khoa học lớp 4 tại các trường tiểu học ở quận Thủ Đức mặc dù có quan tâm nhưng khả năng tổ chức dạy học GQVĐ của GV gặp nhiều khó khăn do đó NL GQVĐ của HS còn hạn chế và chưa được chú -3- Luan van trọng phát triển. Cách thức tổ chức PTNL GQVĐ cho HS lớp 4 trong môn Khoa học được xây dựng trên cơ sở phù hợp với bản chất của môn học, cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học phát triển NLGQVĐ. Nếu được triển khai thì NL GQVĐ ở HS được phát triển hơn và HS tích cực hứng thú hơn trong học tập. Phạm vi nghiên cứu Đề tài khảo sát 30 GV và 240 HS tại 4 trường Tiểu học thuộc quận Thủ Đức, TP.HCM, gồm: Trường Tiểu học Thái Văn Lung, Trường Tiểu học Lương Thế Vinh, Trường Tiểu học Nguyễn Văn Triết, Trường Tiểu học Tam Bình.
(Phụ lục 4, Phụ lục 5, Phụ lục 6, Phục lục 7) Thời gian khảo sát: tháng 9/2020 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận Nghiên cứu lí luận để xây dựng cơ sở lí luận, tìm hiểu tổng quan lịch sử nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm và lý thuyết có liên quan đến NL và NL GQVĐ. Từ việc tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế, so sánh, chọn lọc những thành tựu lý luận và kinh nghiệm giáo dục trong và ngoài nước. Nghiên cứu các tài liệu, bài báo, các công trình nghiên cứu Khoa học có liên quan đến NL và NL GQVĐ.
Tham khảo các tạp chí, báo cáo Khoa học, tài liệu lưu trữ, sách giáo khoa, các trang web về nghiên cứu giáo dục ở Việt nam và trên thế giới. Tham khảo các văn kiện, nghị quyết, quyết định trong công tác giáo dục nói chung và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói riêng. Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến NL GQVĐ của HS, các luận văn, luận án có nội dung phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn bằng bảng hỏi 7. Phương pháp điều tra Sử dụng phương pháp điều tra để khảo sát thực thực trạng PTNL GQVĐ và cách thức tổ chức PTNL GQVĐ cho HS lớp 4 trong môn Khoa học tại các trường tiểu học thuộc quận Thủ Đức.
Điều tra ban giám hiệu, GV và HS trường Trường Tiểu học Nguyễn Văn Triết, Trường Tiểu học Lương Thế Vinh, Trường Tiểu học Thái Văn Lung, Trường Tiểu học Tam Bình về sự quan tâm của ban giám hiệu, GV về -4- Luan van việc PTNL GQVĐ cho HS, cách thức tổ chức dạy học nhằm PTNL GQVĐ cho HS lớp 4 trong môn Khoa học. Điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn BGH, GV, HS lớp 4 tại các trường tiểu học quận Thủ Đức, TP. Phương pháp phỏng vấn Sử dụng phương pháp phỏng vấn để tìm hiểu các thông tin về nhận thức, thái độ, cách thức tổ chức dạy học dạy học mà GV đã sử dụng trong môn Khoa học lớp 4; đề xuất vận dụng cách thức tổ chức dạy học PTNL GQVĐ tại các trường tiểu học thuộc quận Thủ Đức, TP. Khách thể tham gia phỏng vấn gồm cán bộ quản lý, GV, HS tại các trường tiểu học quận Thủ Đức, TP.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính đúng đắn của giả thuyết Khoa học. Thông qua các bài dạy cụ thể trên lớp để kiểm nghiệm tính đúng đắn của giả thuyết Khoa học: nếu vận dụng đúng cách thức tổ chức dạy học GQVĐ tại các trường Tiểu học thuộc quận Thủ Đức, TP.HCM sẽ PTNL GQVĐ trong môn Khoa học cho HS lớp 4.