Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Có thể khái quát các công trình nghiên cứu ở nước ngoài thành một số khía cạnh sau đây: 1. Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Thế kỷ XXI, “thế kỷ của đỉnh cao trí tuệ” kéo theo sự bùng nổ của tri thức khoa học và công nghệ.
Giáo dục đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Việc “học tập suốt đời” (lifelong learning) ở nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới không còn tồn tại chỉ như một khái niệm hay một nguyên tắc đơn thuần trong học tập mà nó đã trở thành một trong những chìa khóa quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.Coombs [134] với tác phẩm nổi tiếng “Khủng hoảng giáo dục trên phạm vi toàn thế giới” đã đề cập đến việc giáo dục trong nhà trường không đủ sức đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi người. Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, kiến thức học được trong nhà trường là quá ít ỏi, chóng lạc hậu. Vì thế, cùng với đào tạo cần đẩy mạnh bồi dưỡng thường xuyên.
Đến thập kỷ 70 (năm 1972), Edgar Faure [121] cho xuất bản cuốn sách “Học tập để tồn tại” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt là giáo dục người lớn, đặt nền móng cho giáo dục suốt đời. Debling [121] đã chỉ ra: Các chương trình giáo dục và đào tạo đã thay đổi và phát triển không ngừng, người ta không thể đào tạo nên một con người chỉ bằng một chương trình cố định. Con người quên đi rất nhanh những gì đã học, nếu chúng không được dùng trong thực tiễn; kiến thức khi đó sẽ phai mờ dần và trở thành kiến thức chết. Từ sau những năm 1950, khoa học - kỹ thuật đã bước vào 9 thời kỳ phát triển như mạnh mẽ, kéo theo sự phát triển của các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa, giáo dục.
Đặc biệt vào những năm cuối của thế kỷ XX, sự biến đổi to lớn của bộ mặt thế giới đến mức có người đã gọi nửa sau của thế kỷ XX là “thế kỷ XX thứ hai”. Kéo theo nó là sự bùng nổ thông tin, khiến cho những người có trình độ đại học chỉ sau 7-10 năm đã có nhu cầu bức thiết phải được đào tạo lại hoặc bồi dưỡng để nâng cao trình độ. Bước sang thế kỷ XXI, nhu cầu học suốt đời càng cấp thiết và cấp bách hơn. Mọi người cần phải học theo bốn trụ cột của giáo dục (học để biết, để làm, để cùng chung sống và để làm người) đã được đề cập trong tác phẩm nổi tiếng “Học tập - một kho báu tiềm ẩn” của Jaques Delors [77].
Một trong những hình thức học tập suốt đời là bồi dưỡng thường xuyên. Trong nền giáo dục của mỗi quốc gia, đội ngũ hiệu trưởng là những nhân vật quan trọng nhất trong nhà trường, phải được liên tục bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu của nhà trường hiện tại, đồng thời phải có khả năng thích ứng với những đổi mới của hệ thống giáo dục suốt 40 năm công tác của mỗi người. Đội ngũ hiệu trưởng chính là lực lượng cốt cán biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục. Xu thế đổi mới giáo dục để chuẩn bị con người cho thế kỷ XXI đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực của đội ngũ hiệu trưởng.
Chính vì vậy, những mối quan tâm của các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực giáo dục cùng những phương thức tiến hành tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ hiệu trưởng đang trở thành những vấn đề lớn, được đặc biệt chú trọng trong các hệ thống giáo dục tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ở một số nước, các viện đào tạo nhà quản lý giáo dục được thành lập nhằm mục đích nghiên cứu phát triển chương trình cùng với chỉ dẫn trực tiếp các hoạt động cung cấp đội ngũ lãnh đạo cho các nhà trường. Các phương pháp xây dựng tiêu chuẩn, xác định những yêu cầu về trình độ và đánh giá những ảnh hưởng của người quản lý trường học đang được xem xét, cân nhắc và rà soát. Dưới nhiều góc độ khác nhau, nhiều nghiên cứu tập trung vào các vấn đề như: Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng hiệu trưởng mà chủ chốt là phát triển chương trình bồi dưỡng để đáp ứng 10 với sự phát triển của khoa học, công nghệ trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa [125]; Chỉ đạo xây dựng, phát triển chương trình bồi dưỡng, cung cấp cho hiệu trưởng những kiến thức, kĩ năng cần thiết để lãnh đạo nhà trường trong bối cảnh nhiều thay đổi gắn với điều kiện cụ thể của đất nước [124].
Trong một nghiên cứu đăng trên “School Learship Today” [131] của Anh đã chỉ rõ những ưu tiên trong quản lý hoạt động bồi dưỡng hiệu trưởng trường học, đó là cần tăng cường kỹ năng xây dựng tổ chức học tập, lãnh đạo việc dạy học và quản lý sự thay đổi. Mỗi quốc gia đều có hình thức khác nhau trong quản lý hoạt động bồi dưỡng hiệu trưởng nhưng hầu hết đều tập trung vào tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý. Ví dụ, ở Thụy Sĩ chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng được xây dựng chú trọng vào các kỹ năng: lãnh đạo, giáo dục, phát triển trường học, tổ chức quản lý. Các tác giả Cộng hòa liên bang Đức đã nghiên cứu về công tác lãnh đạo trường học, chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng, phương pháp bồi dưỡng các vấn đề chính sách và tài chính.
Trong đó, về chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng, các nghiên cứu này đã chỉ rõ: Việc xây dựng chương trình bồi dưỡng phải gắn với chuẩn hiệu trưởng [75]. Khẳng định vai trò quan trọng của bồi dưỡng hiệu trưởng, nhiều tác giả như Andrew Carnegie, John C.Maxwell, Hướng Phi (Trung Quốc), Pam Robbins Harvey B. cho rằng cần phải "Bồi dưỡng phát triển các kĩ năng cho nhân sự là con người" [78] hay quan điểm "Hiệu trưởng như một học viên suốt đời" và "Nếu hiệu trưởng muốn giúp giáo viên cải thiện công việc của họ thì hiệu trưởng phải liên tục học tập để cải thiện những gì mình đang làm". Các tác giả coi trọng việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của người CBQL đứng đầu nhà trường và cho rằng, đây là "cách sáng tạo để đưa ra một tầm nhìn mới và tầm quan trọng về một trường học" [91].
Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục theo tiếp cận năng lực Trên thế giới, khái niệm bồi dưỡng (retraining) được hiểu như là đào tạo lại, là hình thức cung cấp kiến thức bổ sung định kỳ, thường xuyên cho những người đã được đào tạo và đã đi làm. Cuối thập kỷ 1970 đầu thập kỷ 1980, ở Mỹ và Canada, 11 GD&ĐT dựa trên năng lực thực hiện được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục. Bộ Giáo dục Mỹ đã thành lập một tổ chức liên kết quốc gia các trung tâm giáo dục dựa trên năng lực. Tuy nhiên, cho đến những năm đầu thập kỷ 1980 vẫn chưa đưa được ra một định nghĩa về đào tạo dựa trên năng lực cũng như các tiêu chí của chương trình đào tạo dựa trên năng lực được mọi người chấp nhận.
Cuối thập kỷ 1980, Trung tâm giáo dục quốc gia về nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp ở Columbus, Ohio đã soạn thảo chương trình dưới dạng mô đun, 100 bộ mô đun dùng cho đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề và giáo viên phổ thông. Hiện nay, trong hệ thống đào tạo theo năng lực ở Australia, ba yếu tố được xem là then chốt bao gồm: 1) Vai trò của các tiêu chuẩn năng lực trong GD&ĐT; 2) Tổ chức đào tạo dựa trên các tiêu chuẩn năng lực dưới cả hai hình thức đào tạo tại chỗ làm việc và đào tạo ngoài chỗ làm việc; 3) Đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ. Blank [140] đã cho xuất bản tài liệu “Sổ tay phát triển chương trình đào tạo dựa trên năng lực”. Cuốn sách đã đề cập những vấn đề cơ bản của GD&ĐT dựa trên năng lực, phân tích nghề và phân tích nhu cầu người học, xây dựng hồ sơ năng lực người học, phát triển công cụ đánh giá sự hiểu biết và sự thực hiện, phát triển các gói học tập, cải tiến và quản lý chương trình đào tạo.
Tài liệu nghiên cứu của ông được ứng dụng rộng rãi và mang lại kết quả to lớn trong đào tạo nghề ở Mỹ vào những năm 1980. Năm 1983, Viện hàn lâm khoa học Quốc gia Mỹ đã có một báo cáo đề cập đến yêu cầu thay đổi của giáo dục đào tạo trong đó nhấn mạnh, “chương trình đào tạo dựa trên năng lực hơn là dựa theo thời gian”. Các tiếp cận năng lực đã phát triển mạnh mẽ trong những năm 1990 với hàng loạt các tổ chức có tầm cỡ ở Mỹ, Anh, Úc,… Các tiêu chuẩn năng lực được xây dựng nhằm đáp ứng các yêu cầu về chính trị, kinh tế và như là cách để chuẩn bị lực lượng lao động cho nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu. Rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem tiếp cận này là cách hiệu quả nhất để giúp cho GD&ĐT đáp ứng yêu cầu tại nơi làm việc và là cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu.
Những người chuyên làm 12 công tác đào tạo và phát triển đang sử dụng mô hình năng lực để xác định một cách rõ ràng những năng lực cụ thể của từng tổ chức và cá nhân để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ và thống nhất các khả năng của cá nhân với năng lực cốt lõi của tổ chức. Các nhà hoạch định chính sách đang sử dụng mô hình năng lực như là phương tiện để xác định một cách rõ ràng và để gắn kết giữa những đòi hỏi của thực tiễn với các chương trình giáo dục và đào tạo. Tác giả Boyatzis [117] đã trình bày nguồn gốc của GD&ĐT dựa trên năng lực thực hiện, quan niệm về năng lực thực hiện và tiêu chuẩn năng lực thực hiện, về vấn đề đánh giá dựa trên năng lực thực hiện và cải tiến chương trình đào tạo dựa trên năng lực thực hiện.