CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm chung về năng lực Khái niệm về NL được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Từ quan điểm triết học, NL liên quan đến các đặc điểm tâm lý của cá nhân để điều khiển và hướng dẫn hành động, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động sinh tồn. Góc độ tâm lý nhìn nhận NL là tập hợp các đặc điểm và thuộc tính tâm lý của cá nhân nhằm đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể và giúp cá nhân đạt được kết quả cao trong hoạt động đó.
Từ góc độ giáo dục, NL được định nghĩa là khả năng của cá nhân để áp dụng tri thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm và hứng thú vào hành động một cách thích hợp và hiệu quả trong nhiều lĩnh vực phong phú của cuộc sống. Điều này đòi hỏi HS phải có khả năng sử dụng những gì họ đã học được và áp dụng chúng vào các tình huống và vấn đề khác nhau. Theo Lê Đức Ngọc, NL là khả năng của cá nhân trong việc áp dụng tri thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất đã rèn luyện một cách đồng bộ để xử lý các vấn đề, tình huống hay sự việc trong cuộc sống để đạt hiệu quả cao. Điều này đề cập đến việc NL không chỉ bao gồm kiến thức và kỹ năng, mà còn liên quan đến thái độ và phẩm chất cá nhân đã được phát triển.[7] Từ góc độ ngôn ngữ học, Hoàng Phê định nghĩa NL là khả năng sẵn có để thực hiện một hoạt động, bao gồm các phẩm chất tâm lý và sinh lý của mỗi cá nhân, cùng với sự hỗ trợ từ cá nhân đó, để thực hiện một nhiệm vụ hay công việc có chất lượng.
Điều này nhấn mạnh sự tương tác giữa các yếu tố tâm lý, sinh lý và hỗ trợ từ người khác trong việc thực hiện một hoạt động.[9] Theo CTGDPT 2018, NL được xem là một thuộc tính của cá nhân, phát triển thông qua phẩm chất vốn có và quá trình học tập, rèn luyện. NL giúp con người tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính khác như hứng thú, niềm 7 tin, ý chí, để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định và đạt được kết quả mong muốn trong điều kiện nhất định.[14] Như vậy, NL tiềm ẩn của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua hành động và được đánh giá dựa trên kết quả của hoạt động đó. Thuật ngữ "khả năng" mang ý nghĩa của sức mạnh, liên quan đến khả năng thực hiện một công việc hoặc nhiệm vụ. Tóm lại, NL có thể được hiểu là khả năng thực hiện thành công một hoạt động trong một hoàn cảnh cụ thể, thông qua sự tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất cá nhân như sức mạnh, hứng thú, niềm tin, ý chí và các yếu tố khác.
Khả năng của một người được đo lường bằng các phương pháp và dựa trên khả năng của người đó trong việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Năng lực chung và năng lực chuyên biệt Theo IU.Xviregiev, NL được chia thành hai loại chính là NL chung và NL chuyên biệt. [5] Trong CTGDPT tổng thể [13], NL của HS được xác định như sau: NL chung: - NL giao tiếp và hợp tác: Khả năng giao tiếp hiệu quả và làm việc cùng nhau trong một nhóm. - NL tự chủ và tự học: Khả năng tự quản lý, tổ chức công việc và tự học một cách hiệu quả.
- NL giải quyết vấn đề và sáng tạo: Khả năng nhận biết vấn đề, tư duy phản biện, và tạo ra giải pháp sáng tạo. NL chuyên biệt: - NL ngôn ngữ: Khả năng sử dụng và hiểu ngôn ngữ một cách chính xác và linh hoạt. - NL tính toán: Khả năng áp dụng các phép tính và quy tắc toán học để giải quyết vấn đề. 8 - NL khoa học: Khả năng áp dụng phương pháp khoa học để nghiên cứu và hiểu về thế giới xung quanh.
- NL công nghệ: Khả năng sử dụng công nghệ và áp dụng kiến thức công nghệ vào việc thực hiện công việc. - NL thẩm mỹ: Khả năng đánh giá, đánh giá và tạo ra các giá trị thẩm mỹ trong nghệ thuật và văn hóa. - NL thể chất: Khả năng tham gia vào các hoạt động thể chất và duy trì sức khỏe tốt. - NL tin học: Khả năng sử dụng công nghệ thông tin và kiến thức tin học để tương tác và làm việc trong môi trường kỹ thuật số.
NL chung và NL chuyên biệt có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. NL chung là nền tảng để phát triển và hình thành NL chuyên môn. Đồng thời, sự phát triển của NL chuyên biệt cũng sẽ góp phần hoàn thiện các NL chung. Hai loại NL chung và chuyên biệt luôn bổ sung và tương trợ lẫn nhau.
Năng lực toán học Quan niệm về NLTH đã được áp dụng nhiều trong nghiên cứu cả ở Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn chưa có một khái niệm chung nhất cho NL này. Dưới đây là một số quan niệm về NLTH và một quan niệm chung có thể được sử dụng cho nghiên cứu của bạn. Vào đầu năm 1999, PISA, một chương trình Đánh giá HS quốc tế đã công bố định nghĩa ban đầu về NLTH.
Định nghĩa này nhấn mạnh khả năng của cá nhân nhận biết và hiểu vai trò của toán học trong cuộc sống, đưa ra đánh giá có cơ sở, sử dụng và liên kết toán học theo cách thích ứng với nhu cầu cuộc sống và tư cách công dân. Tuy nhiên, vào năm 2012, PISA đã cải thiện cách diễn đạt và đưa ra một định nghĩa mới về NLTH. Định nghĩa này nhấn mạnh rằng NLTH là khả năng của cá nhân trong việc thiết lập, áp dụng và giải thích toán học trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Nó bao gồm suy luận theo toán học và sử dụng các 9 khái niệm, quy trình, sự kiện và công cụ toán học để mô tả, giải thích và dự đoán các hiện tượng.
NLTH giúp mỗi cá nhân nhận ra vai trò của toán học trong thế giới thực, và đưa ra phán đoán và quyết định sáng suốt như một công dân có tính xây dựng, tích cực và biết suy ngẫm. Theo quan niệm của V. Cruchetxki, NLTH là các đặc điểm tâm lý của cá nhân, đặc biệt là đặc điểm của hoạt động trí tuệ, phù hợp với yêu cầu của hoạt động học toán. Trong môi trường học tập vững chắc, NLTH là nguyên nhân cho sự thành công trong việc nắm vững toán học một cách sáng tạo và có tính chất môn học.
NLTH giúp cá nhân nắm vững kiến thức, kỹ năng và tư duy toán học nhanh chóng, dễ dàng và sâu sắc. [6] Trong nghiên cứu này tôi sẽ sử dụng khái niệm “Năng lực toán học là những đặc điểm tâm lý cá nhân để nhận thức được các kiến thức, kỹ năng toán học và vận dụng chúng trong giải quyết các vấn đề toán học và thực tiễn”. Yêu cầu về năng lực toán học của học sinh trung học cơ sở Theo CTGDPT 2018 môn Toán góp phần hình thành và phát triển cho HS NLTH (biểu hiện tập trung nhất của NL tính toán) bao gồm các thành phần chủ chốt sau: NL tư duy và lập luận toán học; NL mô hình hoá toán học; NL giải quyết vấn đề toán học; NLGTTH; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán. [14] Cũng theo [14] biểu hiện cụ thể của NLTH và yêu cầu cần đạt cho cấp THCS được thể hiện trong bảng sau: 10 Thể hiện của thành phần năng lực Yêu cầu Có khả năng thực hiện các thao Có khả năng giải thích hoặc tác tư duy như so sánh, phân tích, sửa cách thức giải quyết vấn tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát đề toán học.
hoá, tương đồng, quy nạp và diễn Có khả năng thực hiện việc Năng lực dịch. lập luận hợp lý khi giải quyết tư duy và Có khả năng quan sát và giải thích vấn đề. lập luận sự tương đồng và khác biệt trong Có khả năng nêu và trả lời toán học nhiều tình huống và biểu thị kết câu hỏi trong quá trình lập quả của quan sát. luận và giải quyết vấn đề, Có khả năng trình bày chứng cứ, lí chứng minh mệnh đề toán học lẽ và lập luận logic trước khi kết không quá phức tạp.
– Trình bày được chứng cứ, lí lẽ – Thực hiện được việc lập và biết lập luận logic trước khi kết luận hợp lí khi giải quyết vấn luận. – Giải thích hoặc sửa được cách – Nêu và trả lời được câu hỏi thức giải quyết vấn đề về phương khi lập luận, giải quyết vấn diện toán học. Chứng minh được mệnh đề toán học không quá phức tạp. Có khả năng nhận dạng mô hình Có khả năng nhận dạng các Năng lực toán học trong các tình huống xuất mô hình toán học (công thức, mô hình hiện trong bài toán thực tế, bao sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ, hoá toán gồm công thức, phương trình, phương trình hình biểu diễn, học bảng biểu, đồ thị, v.) để mô tả tình huống Có khả năng giải quyết vấn đề trong một số bài toán thực tế 11 toán học trong mô hình đã thiết không quá phức tạp.
Có khả năng giải quyết vấn Có khả năng thể hiện và đánh giá đề toán học trong mô hình đã lời giải trong ngữ cảnh thực tế và thiết lập. cải tiến mô hình nếu cách giải Có khả năng thể hiện lời giải quyết không phù hợp với sự đúng toán học trong ngữ cảnh thực đắn của lời giải. tế và làm quen với việc kiểm chứng tính Có khả năng nhận biết và phát Có khả năng phát hiện vấn đề hiện vấn đề có thể được giải quyết cần giải quyết. Năng lực bằng toán học.
Có khả năng xác định cách giải quyết Có khả năng lựa chọn và đề xuất thức, giải pháp giải quyết vấn vấn đề cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề. Có khả năng sử dụng kiến Có khả năng sử dụng kiến thức và thức và kỹ năng toán học kỹ năng toán học tương thích (bao tương thích để giải quyết vấn gồm công cụ và thuật toán) để giải đề. quyết vấn đề đặt ra. Có khả năng đánh giá giải pháp đề ra và khái quát nó cho các vấn đề tương tự.
Có khả năng nghe hiểu, đọc hiểu Có khả năng sử dụng NNTH và ghi chú các thông tin toán học kết hợp với ngôn ngữ thông cần thiết được trình bày dưới dạng thường để biểu đạt các nội Năng lực văn bản toán học hoặc từ người dung toán học cũng như thể giao tiếp khác nói hoặc viết ra. hiện chứng cứ, cách thức và toán học Có khả năng trình bày, diễn đạt kết quả lập luận. số tình huống không quá phức tạp.