Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Phương pháp thiết kế và tổ chức dạy học Thống kê - Xác suất ở trường Trung học phổ thông theo mô hình LHĐN Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về mô hình Lớp học đảo ngược 1.
Ở nước ngoài Các nghiên cứu về phương pháp tiếp cận LHĐN đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Hoa Kỳ [13], [14], [15], [16] trước khi bắt đầu được khám phá ở các quốc gia khác như Canada [12],. Có nhiều nghiên cứu cũng chứng minh rằng, LHĐN giúp cá nhân hoá người học [17], [18], [19]. Theo [12] có rất nhiều lợi ích mà LHĐN mang lại, đó là: Ở LHĐN người học được linh hoạt về việc học [20]; HS có nhiều thời gian để nghiên cứu bài học qua các đoạn video [21], [22]; Bài giảng của GV được đưa lên internet, người học có thể học nhiều lần những nội dung bài giảng do GV cung cấp trên hệ thống học tập trực tuyến hay các hệ thống hỗ trợ khác. Khả năng tương tác giữa người học và GV trong LHĐN nhiều hơn, những người học vắng mặt vẫn có thể được học bài học mà chính GV giảng dạy họ ở trên lớp.
Như vậy, LHĐN sẽ thúc đẩy mối quan hệ hiệu quả hơn giữa người hướng dẫn và người học [23], nơi người học có thể học theo tốc độ của riêng mình [24] và tự chịu trách nhiệm về việc học của mình [25]. Một nghiên cứu gần đây [26] đã đánh giá hiệu quả của LHĐN, họ hướng dẫn học tập theo thứ tự các bài giảng được ghi lại và sau đó được đưa lên mạng khi thời gian giảng dạy được trên lớp dành cho bài tập về nhà. Các bài giảng trực tuyến như vậy bao gồm đồ họa, video, hình ảnh đại diện, và hình ảnh có thể được truy cập vào các HS khi họ quyết định để sử dụng chúng, thay vì tiêu tốn thời gian giảng dạy trên các tài liệu giảng dạy như giáo trình, tạp chí [27]. Ngoài ra, HS được khuyến khích suy nghĩ cả trong và ngoài lớp học.
Các chiến lược giảng dạy khác nhau như vậy giúp HS trở thành người học tích cực, chủ động, tự lĩnh hội kiến thức. 6 Trong bối cảnh của giáo dục đang trải qua sự thay đổi sâu sắc, nhiều áp lực xuất hiện từ các lĩnh vực khác nhau của xã hội, công cuộc giáo dục phải có hiệu quả hơn để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của của xã hội đặt ra. Từ lĩnh vực thị trường công việc, chúng ta hãy đề cập đến áp lực từ các cơ quan kiểm định và đơn đặt hàng chuyên nghiệp; vì vậy, việc kiểm soát nội dung và phương thức giảng dạy luôn được quan tâm trong các bậc giáo dục (Pelletier, 2009). Trong các chuyên ngành, hiện nay, chúng ta không chỉ có một mong muốn tăng cường để đưa ra một cách tiếp cận dựa trên kỹ năng mà còn dựa vào nhu cầu thị trường công việc (học tập dựa trên công việc) và cái gọi là kỹ năng transversal (kỹ năng mềm), ví dụ giao tiếp, làm việc theo nhóm hoặc tư duy phê phán (Billett, 2009).
Một số tác giả nói về một "nghề nghiệp" của giáo dục đại học (Maclean, 2010) có liên quan đến đào tạo nghề. Lĩnh vực sư phạm nổi lên áp lực cho giáo dục đại học lấy người học làm trung tâm (Tennant, McMullen & Kacznski, 2010, Mostrom & Blumberg, 2012) đã thúc đẩy các phương thức học tập tích cực và hợp tác hơn (Hmelo-Silver & Barrows, 2008, Harris & Harvey, 2000). Cuối cùng, chúng ta không thể bỏ qua sự quan tâm ngày càng tăng trong việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục đại học (UNESCO, 2009). Phương pháp lớp học đảo ngược là một phương pháp dạy học tích cực cho các môn học.
Ở trong nước Ở Việt Nam, mô hình LHĐN mới được nhắc đến nhiều trong vài năm gần đây, hầu hết là các bài viết giới thiệu trên các bài báo, tạp chí, trang tin của trường hoặc các cơ sở đào tạo. Đồng thời mô hình LHĐN vẫn chưa được Bộ GD&ĐT “chính thức thừa nhận”, rất ít những thông tin, bài viết về LHĐN trên các báo giáo dục. Một vài giáo viên áp dụng mô hình này một cách tự phát, rời rạc, không có sự kết nối, không có môi trường để lan tỏa. Tuy nhiên, qua một số ít báo cáo, nghiên cứu khoa học đã được công bố ở Việt Nam như Nguyễn Chính, mô hình này được đánh giá là hỗ trợ hiệu quả giúp nâng cao chất lượng 7 dạy học, phát triển theo hướng dạy học lấy người học làm trung tâm, cải thiện sự thụ động của học sinh trong học tập, năng lực sử dụng CNTT và năng lực giải quyết vấn đề trong cuộc sống cho học sinh cũng tiến bộ hơn; qua đó nâng cao chất lượng tương lai đáp ứng yêu cầu xã hội Đồng thời, thông qua một vài nghiên cứu về mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy: Mô hình LHĐN trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay (2019) của Nguyễn Khánh Như; Vận dụng mô hình LHĐN trong dạy học môn GDCD ở trường THPT (2018) của tác giả Nguyễn Thị Khương.
Các bài viết mang tính giới thiệu, biên dịch một cách sơ lược về định nghĩa LHĐN, lịch sử hình thành, và các bài nghiên cứu đa phần được viết trong thời gian trước khi dịch bệnh xảy ra. Tuy nhiên có sự tác động của Covid-19, bối cảnh học tập đã có những thay đổi nhất định. Vì vậy bài nghiên cứu này sẽ cập nhật việc vận dụng mô hình LHĐN trong bối cảnh hiện nay đồng thời cũng nêu cụ thể các thực trạng vận dụng và đánh giá mức độ hiệu quả của việc vận dụng mô hình LHĐN. Tổng quan nghiên cứu về dạy học Thống kê - Xác suất 1.
Ở nước ngoài Từ những thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về dạy học thống kê ở trường trung học, như các công trình của Holmes (1980), Hawkins, Jolliffe và Glickman (1991). Trong công trình của Holmes (1980), tác giả trình bày về tính hữu ích của thống kê đối với cuộc sống hàng ngày, vai trò quan trọng của thống kê trong việc phát triển tư duy phê phán và vai trò công cụ của thống kê trong các ngành nghề. Trong công trình này tác giả còn quan tâm đến PPDH thống kê ở trường trung học như thế nào. Năm 1986 chính tác giả đã thử nghiệm tổ chức một khoá học về thống kê cho học sinh lứa tuổi từ 11 đến 16, làm cơ sở cho việc đề xuất PPDH thống kê ở các trường trung học tại Anh.
Hawkins, Jolliffe và Glickman (1991) đã xuất bản cuốn sách “Dạy học các khái niệm về thống 8 kê”, nhằm đáp ứng tình hình nhiều ý kiến cho rằng các số liệu thống kê nên là một phần của chương trình giảng dạy cốt lõi cho tất cả trẻ em, dẫn đến nhu cầu cấp thiết là giáo viên cần được đào tạo cả về nội dung và phương pháp giảng dạy thống kê, Cuốn sách đề xuất những cách tốt nhất để dạy thống kê và nh ng kỹ năng ứng dụng thống kê trong cuộc sống [26]. Công trình của Ortiz (1999) chỉ ra rằng: Sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn giảng dạy TKXS chuẩn bị cho giáo viên tiểu học và trung học chưa hỗ trợ đầy đủ và thiết thực. Theo đánh giá của các tác giả: Sách giáo khoa đôi khi đưa ra một cái nhìn quá hẹp về xác suất (chỉ có cách tiếp cận cổ21 điển) và các ứng dụng đôi khi bị hạn chế trong các trò chơi may rủi và một số trong đó còn đưa ra những định nghĩa khái niệm thiếu chính xác. Năm 2000, Hội đồng giáo viên toán quốc gia Hoa Kỳ (The National Council of Teachers of Mathematics, viết tắt là NCTM) đã đề ra các nguyên tắc và tiêu chuẩn dạy học môn toán ở trường; trong đó có hướng dẫn giảng dạy và đánh giá trong giáo dục thống kê.
Các nguyên tắc và tiêu chuẩn dạy học môn toán này đã có ảnh hưởng trong việc phát triển giáo dục thống kê trong chương trình giảng dạy tại Mỹ và các quốc gia khác. (2004) đã có một bài báo khoa học tổng quan về tình hình đào tạo giáo viên dạy xác suất ở trường phổ thông. Theo nhóm tác giả: Ngày nay xác suất và thống kê được đưa vào chương trình Toán cho các lớp từ tiểu học đến trung học, ở nhiều quốc gia. Giải thích lý do cho sự xuất hiện của xác suất và thống kê trong chương trình Toán tiểu học, trung học, các tác giả cho rằng do tính hữu ích của thống kê và xác suất cho cuộc sống hàng ngày, do vai trò công cụ của nó trong các ngành.
Trong bài báo này, nhóm tác giả phân tích lý do tại sao việc giảng dạy xác suất là khó khăn đối với giáo viên toán, mô tả các nội dung cần thiết trong quá trình chuẩn bị cho giáo viên dạy xác suất và đưa ra một số ví dụ minh hoạ dựa trên kinh nghiệm tại Đại học Granada, trong các khóa học về Khoa học và Kỹ thuật thống kê từ năm 1996 9 dành cho giáo viên tiểu học và trung học. Các tác giả cũng chỉ ra một số bất cập của việc đưa xác suất và thống kê vào cấp tiểu học và trung học, trong đó bất cập lớn nhất là đa phần giáo viên toán còn thiếu sự chuẩn bị cho việc dạy thống kê và xác suất. Ví dụ, ở Tây Ban Nha, các giáo viên toán trung học không được đào tạo cụ thể để dạy thống kê. Tình hình này đối với giáo viên tiểu học thậm chí còn tồi tệ hơn vì hầu hết trong số họ chưa được đào tạo cơ bản về thống kê và đây là tình hình phổ biến ở nhiều quốc gia.
Trong một hội thảo khoa học về giảng dạy thống kê ở trường phổ thông (2008), nhóm tác giả Chick H. đã báo cáo kết quả khảo sát 27 giáo viên tiểu học về việc sử dụng nguồn dữ liệu và cơ hội để giải quyết các vấn đề trong dạy học thống kê. Kết quả cho thấy hầu hết giáo viên không có khả năng hoặc không quan tâm đến nguồn dữ liệu; các kế hoạch giảng dạy tập trung vào các biểu đồ và quy tắc tính toán số liệu thống kê, nhưng ít chú trọng đến nguồn dữ liệu hoặc ý nghĩa của nó [28]. Trong Hội nghị giáo dục Toán học châu Âu lần thứ IX tại Prague, Cộng hòa Séc (2015), Batanero C.
đã có một báo cáo trong phiên toàn thể, với tiêu đề “Hiểu về tính ngẫu nhiên: Những thách thức trong nghiên cứu và giảng dạy” (Understanding randomness: Challenges for research and teaching).