Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là sự tác động có định hướng, có mục tiêu, có tổ chức, có kế hoạch. Đó là quá trình hoạt động có sự kết hợp đồng bộ vai trò chủ đạo của người thầy với sự tự giác, tích cực chủ động và rèn luyện của trò nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ. Từ những năm cuối thế kỉ XIX cho đến những năm cuối thế kỷ XX, giai đoạn chủ nghĩa Mác-Lênin xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của nền khoa học – kỹ thuật.
Khoa học giáo dục thực sự phát triển và có nhiều biến đổi về lượng và chất. Những vấn đề chủ yếu của chủ nghĩa Mác-Lênin đã định hướng cho sự nghiệp giáo dục là các quy luật về sự hình thành nhân cách con người, tính quy định về kinh tế - xã hội đối với giáo dục… Dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, nhiều nhà khoa học Xô viết cũ đã thông qua lý luận dạy học để gián tiếp thể hiện những quan điểm của mình về chất lượng giáo dục, hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực. Từ khoảng nửa cuối thế kỷ XX đến nay, khi mà thế giới đang chuyển dần từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên công nghệ thông tin và phát triển nền kinh tế tri thức, vấn đề hiệu quả giáo dục nói chung và phẩm chất đạo đức của con người nói riêng đã được nhiều nhà khoa học đặc biệt quan tâm. Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến mối quan hệ giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội, coi đó là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo kết quả giáo dục.
Nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu, từng bước giải quyết những vấn đề trên theo từng góc độ khác nhau nhưng cùng chung một mục đích đó là “Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, nhằm đáp ứng với sự thay đổi nhanh chóng về KH-KT và CN cũng như những vấn đề khác về kinh tế - chính trị xã hội, an ninh quốc phòng… Nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản lý dạy-học hiện nay đã có rất nhiều 7 các các nhà khoa học quan tâm. Đặc biệt, có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề phối hợp, quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh. Vấn đề giáo dục đạo đức đã và đang trở thành mối quan tâm của các nhà sư phạm nói chung và các nhà quản lý giáo dục nói riêng. Trong các văn kiện của Đảng đã thường xuyên thể hiện sự quan tâm đến vấn đề xây dựng con người Việt Nam, đặc biệt là đạo đức của con người Việt Nam qua từng thời kỳ.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là yếu tố quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa .“Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng”, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì là người vô dụng” [29]. Nguyễn Trãi cũng đã khẳng định “tài thì kém đức một vài phần” và cho rằng “Người có tài mà không có đức thì nhũng nhiễu thiên hạ”. Cho nên “sĩ tử đi học trước hết phải trau dồi đạo đức rồi sau mới học làm văn chương, giỏi thì giúp đời cứu dân, không giỏi thì sửa mình, sửa tục” [27].
Một trong các khâu quan trọng trong đào tạo học sinh ở nhà trường là GDĐĐ , nhưng việc GDĐĐ muốn đạt kết quả tốt không thể không có sự phối hợp giáo dục của gia đình và xã hội. Vì đạo đức được hình thành trong cuộc sống, hoạt động và giao tiếp với các thành viên khác trong xã hội. Song làm thế nào để nhà trường, gia đình và xã hội cùng đạt được mục đích trong GDĐĐ đó là vấn đề luôn được đặt ra cho các nhà quản lý. Vì vậy, việc phối hợp giữa NT và GĐ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý GDĐĐ cho học sinh đã trở thành đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà giáo dục Việt Nam.
Thời gian qua có một số tác giả nghiên cứu về đạo đức và GDĐĐ như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã bàn đến vai trò, vị trí và ý nghĩa của GDĐĐ cho học sinh [31]. Các tác giả như Phạm Minh Hạc đã nghiên cứu định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kì Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa đất nước. Phạm Khắc Chương nghiên cứu về lý luận đạo đức trong nhà trường hiện nay. Tác giả Đặng Quốc Bảo với: Một số ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ, thanh niên, sinh viên và phương pháp giáo dục.
Đặng Xuân Hải (2005), với “ Đổi mới công tác bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục, quản lí nhà trường” [15]. 8 Một số luận văn nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua con đường phối hợp giữa nhà trường và xã hội. Tác giả Phạm Thành Công với đề tài: “Tổ chức phối hợp nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS huyện Đan Phượng, Hà Nội” 2012 của trường Đại học Giáo dục, đề cập đến mối quan hệ bền vững, vững vàng tạo thành tam giác đó là nhà trường, gia đình và xã hội. Trong đó đề tài chủ yếu đề cập đến vai trò của xã hội trong việc tác động đến đạo đức học sinh.
Tác giả Hồ Văn Thơm (2009) nghiên cứu về thực trạng quản lý sự phối hợp giữa NT và GĐ trong công tác giáo dục đạo đức HS ở các trường THCS Huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Tác giả Dương Công Dũng (2012) với đề tài: “Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THCS huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Mặc dù nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục đạo đức cho học sinh nhưng đề tài tiếp cận ở góc độ quản lý chung về công tác này của Hiệu trưởng chứ không đi sâu vào một mối quan hệ nào. Tác giả Đỗ Quang Hợp cũng đề cập đến các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng các trường THCS tỉnh Hưng Yên.
Như vậy, nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục đạo đức cho học sinh được nhiều học giả quan tâm. Tuy nhiên, quản lý công tác phối hợp giữa NT và GĐ cho học sinh đặc biệt là loại hình trường THCS thì đang còn bỏ ngỏ. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung giáo dục đạo đức, định hướng các giá trị ĐĐ, các giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh. Đặc biệt, hiện nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức học sinh ở các trường THCS nói chung và học sinh trường THCS thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định nói riêng.
Xuất phát từ vấn đề cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn, đề tài của tác giả là sự tiếp nối những nghiên cứu về công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THCS. Vì vậy, tác giả chọn đề tài này với hy vọng nêu ra các biện pháp quản lý công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong việc giáo dục đạo đức 9 cho học sinh THCS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm chính của đề tài 1. Gia đình Theo từ điển Tiếng Việt thì “Gia đình là một tập hợp người cùng chung sống thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”.
Gia đình là nền tảng của xã hội, là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên nhất là trẻ em. Quản lý giáo dục Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,…bằng một hệ thống có luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm đạt tới mục tiêu đề ra. Mục tiêu quản lý là định hướng toàn bộ hoạt động quản lý đồng thời là công cụ để đánh giá kết quả quản lý. Để thực hiện những mục tiêu đó, quản lý phải thực hiện bốn chức năng: Kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá.
Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý. Dựa vào khái niệm “Quản lý” một số tác giả đưa ra khái niệm quản lý giáo dục như sau: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà trên quan điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. “Quản lý giáo dục, quản lý trường học có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính chất sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng trong và ngoài nhà trường làm cho quy trình này vận hành tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến”. 10 “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới kết quả mong muốn”.
Dù diễn đạt nhiều cách khác nhau, song các định nghĩa trên đều toát lên bản chất của hoạt động giáo dục, có cơ sở giáo dục là hệ thống các tác động có mục đích, có định hướng, có ý thức của bộ máy quản lý giáo dục các cấp tới các đối tượng quản lý theo những quy luật khách quan nhằm đưa hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu mong muốn.