CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về văn hóa và văn hóa truyền thống 1. Văn hóa và tính chất của văn hóa a, Khái niệm văn hóa Ở Phương Đông, trong ngôn ngữ của người Hán tiếng “văn” là đẹp, tiếng “hóa” là trở thành, biến cải vậy nên văn hóa là làm cho cái gì trở nên đẹp có giá trị. Lưu Hướng là người sử dụng từ văn hóa sớm nhất (năm 77 – 76 B.C) thời Tây Hán, với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa – dùng “văn” để “giáo hóa”.
Theo Lưu Hướng văn hoá ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết). Ở Phương Tây, trong chữ Latinh thuật ngữ văn hóa bắt nguồn có nghĩa gốc là trồng trọt - trồng trọt tinh thần – sự giáo dục. Về nghĩa gốc, dù theo quan niệm phương Tây hay phương Đông, văn hóa gắn liền với giáo dục, trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn, đào tạo con người, một tập thể người để cho họ có phẩm chất tốt đẹp, cần thiết cho toàn thể cộng đồng. Tiêu biểu cho cách hiểu này là khái niệm văn hóa của UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization – Tổ chức văn hóa và khoa học, giáo dục của Liên Hợp Quốc), được thừa nhận rộng rãi: Văn hóa là “Tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại.
Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”.5] 8 Ở Việt Nam từ “văn hóa” hay khái niệm văn hóa xuất hiện khá muộn vào khoảng đầu thế kỷ XX – trong tác phẩm “Việt Nam văn hóa sử cương” – Đào Duy Anh. Ông cho rằng hai tiếng “văn hóa” chẳng qua là chỉ cái chung cho tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng “ Văn hóa tức là sinh hoạt”.[1] Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa.
Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn.1796] Trong từ điển học sinh do NXB Giáo dục ấn hành năm 1971 viết: “Văn hóa” là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần (như trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…) mà loài người sáng tạo ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử. Hay là: “Trình độ hiểu biết về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử nhất định”.196] Ở một góc độ khác, người ta xem văn hóa như là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người.
Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Còn theo chủ tịch Hồ Chí Minh, khi định nghĩa về văn hóa, Bác viết: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các 9 phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.458] b, Tính chất của văn hóa Văn hóa bao gồm một số tính chất sau đây: - Tính dân tộc Tính dân tộc là những đặc điểm nổi bật của cộng đồng người có chung lãnh thổ, chế độ chính trị, ngôn ngữ, phương thức trải qua một thời kì lịch sử lâu dài.
Tính dân tộc không bộc lộ một cách rõ ràng thành yếu tố hữu hình mà nó thấm vào trong phương thức thể hiện, cảm xúc và trong cách nhìn của tác phẩm. Nhà văn không phải cứ tập chung miêu tả về cảnh sắc thiên nhiên hay kể về những tên đất, tên làng gắn liền với dân tộc mình đang sinh sống thì tác phẩm mới mang tính dân tộc. Trong tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du chúng ta thấy trong tác phẩm xuất hiện nhiều địa danh, nhân vật, kể cả cốt truyện đều có nguồn gốc từ đất nước Trung Hoa, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được tâm hồn dân tộc thấm đẫm trong những trang truyện Kiều. Rõ ràng một tác phẩm có tính dân tộc là tác phẩm thể hiện được “tính cách dân tộc và cái nhìn dân tộc đối với cuộc đời”.
Chẳng hạn, người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay đều có chung một nét tính cách phổ biến là chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh, giàu lòng yêu thương và thủy chung, son sắt. Nhân cách đó đã hình thành từ thời xa xưa, được lưu truyền, ca ngợi trong nhiều bài ca dao và truyện kể khác. Tính dân tộc của văn hóa đòi hỏi phải thể hiện được cốt cách và tâm hồn con người Việt Nam, là tất cả những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn và tính cách đã được hun đúc trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. - Tính giai cấp Sự phát triển của văn hóa là quá trình đầy mâu thuẫn trong đó phản ánh các quan hệ giai cấp song song với lợi ích các dân tộc.
Theo quan điểm, tư 10 tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong xã hội có giai cấp, nội dung cốt lõi của mọi nền văn hóa là ý thức hệ giai cấp. Trong mọi thời đại, tư tưởng của giai cấp thống trị trở thành tư tưởng thống trị của thời đại đó. Chính vì vậy, sau khi đấu tranh giai cấp diễn ra, giai cấp công nhân giành được quyền thì ý thức hệ của họ trở thành nhân tố giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội. Đó chính là đặc trưng phản ánh bản chất giai cấp công nhân của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy, mọi nền văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng có tính giai cấp. Sự kế thừa luôn có trong văn hóa luôn có, sự kế thừa này luôn mang tính giai cấp và được biểu hiện ở nền văn hóa của mỗi thời kì lịch sử trên cơ sở kinh tế, chính trị của nó. Tất cả các văn hóa xét theo chuẩn mực giai cấp có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm không thể áp dụng chuẩn mực giai cấp được như ngôn ngữ, khoa học, kĩ thuật; Nhóm có nội dung nhân loại nhưng đồng thời ở mức độ nhất định, mang dấu ấn những lợi ích giai cấp: một số phong tục, tập quán, một số giá trị đạo đức phổ quát; Bản chất giai cấp gắn với văn hóa. Đặc biệt trong lĩnh vực chính trị.
Trong các nhóm văn hóa ấy cần xác định tính giai cấp của những giai cấp suy tàn hay đang lên. - Tính khoa học Tính khoa học của văn hóa được thể hiện ở tính hiện đại, tiên tiến, thuận với trào lưu tiến hoá của thời đại. Tư duy nông nghiệp là một loại tư duy kinh nghiệm, vì thế nó không mở đường cho khoa học phát triển, nên tư duy lý luận, khái niệm khoa học, phương pháp khoa học chưa trở thành mặt chủ đạo của ý thức toàn xã hội. Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi phải đấu tranh chống lại những gì trái với khoa học, phản tiến bộ; phải truyền bá tư tưởng triết học mácxít, chống chủ nghĩa duy tâm thần bí, mê tín, dị đoan.
Nền văn hóa của chúng ta suốt những năm qua đã đưa đến một tư duy khoa học cho mọi tầng lớp nhân dân, giúp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, bài trừ hủ tục lạc hậu, đấu tranh với tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản 11 xuất và đời sống. Để phát triển nền văn hóa mang tính khoa học, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 27 về thực hiện nếp sống văn minh trong đời sống xã hội. Từ chỗ 95% dân số mù chữ sau 1945, nhờ chủ trương diệt “giặc dốt”, chăm lo đẩy mạnh giáo dục, phát triển khoa học công nghệ, đến nay, cả nước có gần 50 triệu người đi học ở tất cả các cấp học, các loại hình đào tạo. Hàng năm, Việt Nam đã ghi tên mình vào danh sách các nước có học sinh giỏi quốc tế và được UNESCO đánh giá cao về các lĩnh vực giáo dục, y tế.
Nền văn hóa của chúng ta phù hợp với quá trình vận động của lịch sử, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, bền vững. - Tính đại chúng Như đã biết văn hóa là các giá trị tinh thần và vật chất do con người sáng tạo nên và trở lại phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân. Tính đại chúng của văn hóa vì thế thể hiện ở mục đích phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân, tạo nền tảng tinh thần cho xã hội. Các loại hình văn hóa nghệ thuật, các lễ hội, hệ thống thiết chế văn hóa, di sản văn hóa… do nhân dân dày công sáng tạo và vun đắp đã phát huy tác dụng, phục vụ đời sống nhân dân trong mọi thời kỳ cũng như trong công cuộc xây dựng hiện nay.
Tuy nhiên, trong thời đại phát triển vũ bão của công nghệ thông tin, nếu không có cách tiếp nhận, không có phương pháp tổ chức và tuyên truyền thì các hoạt động văn hóa sẽ rất khó lòng thu hút được đông đảo nhân dân tham gia, nhất là với giới trẻ. Xây dựng nền văn hoá dân tộc mang tính đại chúng, theo Hồ Chí Minh, văn hoá còn phải đánh giá nhìn nhận cho đúng vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử, sáng tạo văn hoá của quần chúng nhân dân.