phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về GDĐĐ cho HS THCS. Chƣơng 2: Thực trạng công tác GDĐĐ cho HS tại các trƣờng THCS Quận 1 TPHCM. Chƣơng 3: Biện pháp GDĐĐ cho HS tại các trƣờng THCS Quận 1 TPHCM. 5 Luan van CHƢƠNG CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Đạo đức là vấn đề đƣợc các nhà tƣ tƣởng và triết học đề cập đến từ lâu, đƣợc xã hội mọi thời đại cả ở phƣơng Tây lẫn phƣơng Đông quan tâm và coi trọng. Khổng Tử (551 - 479 - TCN), ông là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc cổ đại. Tƣ tƣởng giáo dục Khổng Tử rất chú trọng vào dạy ngƣời - thuyết đức trị.
Theo Ông, mục tiêu giáo dục là đào tạo, bồi dƣỡng ngƣời “nhân”, “quân tử” để làm quan, “khôi phục lễ nghĩa” trong xã hội. Nội dung giáo dục luân lý đạo đức của Khổng Tử đƣợc thể hiện rõ trong “Luận ngữ”. “Luận ngữ” chủ trƣơng rèn luyện tính thiện cho dân bằng phƣơng pháp “cất nhắc ngƣời tốt, dạy dỗ ngƣời không tốt thì dân khuyên nhau làm điều thiện”. [15] Ở phƣơng Tây, Nhà triết học Socrate (470 – 399 TCN) coi cái gốc của đạo đức là tính thiện, đạo đức và sự hiểu biết qui định nhau, tức là có đạo đức là nhờ sự hiểu biết và con ngƣời sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức, [18] Aristoste (384 -322 TCN) cho rằng thƣợng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên đƣợc con ngƣời hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.[18] Petxtalôdi (1746 – 1827), một trong những nhà giáo dục tiêu biểu của thế kỷ XIX, đã đánh giá rất cao vai trò của GDĐĐ.
Ông cho rằng nhiệm vụ trung tâm của giáo dục là giáo dục đạo đức cho trẻ em trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con ngƣời. Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình, trƣớc hết là đối với cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn bè và mọi ngƣời trong xã hội.Mác (1818 -1883), ngƣời sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng: “Con ngƣời phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa và con ngƣời phát triển toàn diện là con ngƣời phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm 6 Luan van mỹ và có khả năng cảm thụ đƣợc tất cả những hiện tƣợng tự nhiên, xã hội xảy ra chung quanh,. Kômenxki (1592 – 1670) đã đ c kết “ Một số qui tắc trong ứng xử” đặc biệt quan tâm đến phƣơng pháp nêu gƣơng cho HS, đặc biệt là sự gƣơng mẫu của các thầy giáo, cha mẹ và những ngƣời thân. Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các nhà giáo và tất cả những ngƣời làm nghề nuôi dạy trẻ: “Hãy mãi mãi là một tấm gƣơng trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chƣớc mà vào đời một cách chân chính…”.[32] Vào thế kỷ XX, nhà sƣ phạm A.
Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục đạo đức thông qua nhiều phƣơng pháp nhƣ phƣơng pháp nêu gƣơng, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể.[18] Các nhà nghiên cứu trên thế giới quan niệm rằng nội dung giáo dục đạo đức cần tập trung đào luyện những phẩm chất cơ bản của nhân cách nhƣ tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tinh thần hợp tác. Các nghiên cứu trong nƣớc Ở Việt Nam ngay từ khi thành lập nƣớc, Đảng và Nhà nƣớc đã rất quan tâm đến giáo dục, coi sự dốt nát nguy hiểm nhƣ giặc ngoại xâm và ngày càng coi trọng giáo dục. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Phải thực sự coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu”, toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.[5] Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là ngƣời vô dụng”. Ngƣời coi trọng mục tiêu, nội dung GDĐĐ trong các nhà trƣờng nhƣ: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con ngƣời cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm -chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành ngƣời”.
[23] Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, rèn luyện 7 Luan van phƣơng pháp tƣ duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dƣỡng ý thức đạo đức, hƣớng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho HS.[19] Phạm Minh Hạc nghiên cứu đạo đức trong cấu tr c nhân cách và đề xuất thực hiện GDĐĐ cho HS trong quá trình giáo dục nhân cách, xem đó là mục tiêu quan trọng của việc thực hiên chất lƣợng giáo dục. Tác giả cũng bày tỏ quan điểm về các định hƣớng giáo dục giá trị đạo đức con ngƣời Việt Nam trong thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc.[8] Tác giả Hà Nhật Thăng đã nghiên cứu sự phát triển trí lực - tâm lực - thể lực của mỗi con ngƣời, trong đó phải coi tâm lực là nội lực của sự phát triển con ngƣời.[25] Phạm Hoàng Gia nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục nhận thức khoa học với GDĐĐ, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và từ đó đƣa ra dự báo mô hình nhân cách thanh niên năm 2000.[7] Ngoài ra, trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học hết sức quan tâm hiện tƣợng suy thoái, thậm chí tha hóa đạo đức ở một bộ phận thanh thiếu niên do tác động tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trƣờng nên đã có những công trình khoa học đáng quan tâm nhƣ: Đề tài mang mã số NN7: “do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm. Đề tài này đã mang lại nhiều nội dung mới về GDĐĐ, chính trị và tƣ tƣởng trong các trƣờng từ tiểu học đến đại học những năm đầu của thập kỷ 90. Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân”.[4] Đề tài: “Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị”, chƣơng trình nghiên cứu khoa học, công nghệ quốc gia KX.07 (1991 - 1995), do Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang nghiên cứu các đề tài về con ngƣời với tƣ cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển.
Trong phạm vi của chƣơng trình nghiên cứu này đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ, phát triển nhân cách. Đáng lƣu ý nhất là vấn đề giáo dục truyền thống dân tộc và cách mạng đã đƣợc các tác giả đề cập và lý giải trên cơ sở khoa học.[30] Trong các đề tài luận văn, luận án chuyên ngành quản lí giáo dục của những năm gần đây, các tác giả cũng có đề cập đến một số vấn đề chung về quản lí hoạt động 8 Luan van GDĐĐ cho HS ở các cấp độ khác nhau, trong đó có các đề tài luận văn thạc sĩ Giáo dục học chuyên ngành QLGD điển hình nhƣ: Đề tài: “Phối hợp quản lí giáo dục đạo đức của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và nhà trường đối với học sinh trung học phổ thông thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trang, năm 2010.[27] Đề tài: “Thực trạng quản lí công tác giáo dục đạo đức qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường Tiểu học huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Hồng Nhung, năm 2011.[20] Đề tài: “Thực trạng hoạt động quản lí GDĐĐ học sinh một số trường Trung cấp nghề tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Tạ Thị Thu Hồng, năm 2010.[10] Đề tài: “Thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre” của tác giả Lê Thị Ngọc Thảo, năm 2011.[25] Đề tài: “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Gia Lộc II, tỉnh Hải Dương” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh, năm 2012.[1] Đề tài: “Biện pháp quản lí giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Bình Sơn tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Lê Gia Thanh, năm 2010.[23] Từ năm 2010 đến nay, tại Viện sƣ phạm kỹ thuật, trƣờng ĐHSPKT Tp.HCM nhiều tác giả đã chọn các đề tài có liên quan đến giáo dục đạo đức cho học sinh làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành giáo dục. Các công trình trên rất đa dạng, phong ph , đã phân tích vấn đề giáo dục đạo đức dƣới nhiều góc độ khác nhau và có chiều sâu đã làm rõ đƣợc nhiều vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục đạo đức. Kết quả nghiên cứu của các tác giả nói trên là đã chỉ ra một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản của đạo đức, và giáo dục đạo đức cho học sinh nhƣ: bản chất, chức năng, nhiệm vụ của đạo đức, mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp giáo dục đạo đức cho học sinh.
Các công trình nghiên cứu, hƣớng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục đạo đức cho các cấp học nói chung. Tuy nhiên còn có rất ít những công trình quan tâm giải quyết vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở, cụ thể chỉ có tài liệu 9 Luan van tự học về giáo dục đạo đức cho học sinh nhƣng nhìn chung cán bộ quản lý và giáo viên còn rất mơ hồ trong việc tự thực hiện. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN. Đạo đức Đạo đức là một phạm trù đƣợc rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu nhƣ triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học.
Mỗi lĩnh vực có một cách tiếp cận riêng và kết quả đã tạo ra một hệ thống quan niệm đạo đức rất phong phú và sâu sắc. Dƣới góc độ triết học, ngƣời ta quan niệm rằng Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con ngƣời trong quan hệ với ngƣời khác với cộng đồng.