Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM. Các nghiên cứu trên thế giới Giáo dục đạo đức học sinh trong nhà trường được xem là một trong những công việc đòi hỏi các nhà giáo dục phải chú trọng để hình thành và phát triễn nhân cách cho học sinh. Con đường giáo dục là con đường dài nhất, đặc biệt là con đường giáo dục đạo đức, phải được thực hiện thường xuyên và lâu dài trong mọi tình huống.
Câu nói được tổng thống Thevdove Roosevelt để lại tên tuổi trong giáo dục là: “Giáo dục một người về trí não mà không giáo dục về tâm hồn, đạo đức thì coi như giáo dục một kẻ gây họa cho xã hội”[1] Từ thuở sơ khai đến ngày hôm nay có nhiều nhà giáo dục để lại những tác phẩm, công trình nghiên cứu có giá trị và ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp giáo dục thế giới, trong đó có một số nhà giáo dục nỗi bật như: Khổng Tử (551-479-TCN), ông là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo dục nỗi tiếng ở Trung Quốc cổ đại. Tư tưởng giáo dục Khổng Tử rất chú trọng vào dạy người – Thuyết đức trị. Theo ông, mục tiêu giáo dục là đào tạo, bồi dưỡng người “Nhân”, “Quân tử” để làm quan, “khôi phục lễ nghĩa” trong xã hội. Nội dung giáo dục luân lý đạo đức của Khổng Tử được thể hiện rõ trong “Luận ngữ”.
“Luận 7 Luan van ngữ” chủ trương rèn luyện tính thiện cho dân bằng phương pháp “cất nhắc người tốt, dạy dỗ người không tốt thì dân khuyên nhau làm điều thiện” [8] J. Komen Sky (1592 – 1670) đã đúc kết “một số quy tắc trong ứng xử” đặc biệt quan tâm đến phương pháp nêu gương cho học sinh, đặc biệt là sự gương mẫu của các thầy giáo, cha mẹ và những người thân. Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các nhà giáo và tất cả những người thân làm nghề nuôi dạy trẻ: “Hãy mãi mãi là một tấm gương sáng trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính…”[11] A. Macarenco (1888 – 1939) nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại, người có công làm một cuộc thực nghiệm giáo dục vĩ đại gần 20 năm ở “Trại lao động Gooki và Dzezinxki” nhằm cải tạo trẻ em hợp pháp.
Thành công của cuộc thực nghiệm giáo dục của Macarenco ở chỗ không chỉ giáo dục trẻ em phạm pháp trong nhà trường mà ông đã gắn liền giáo dục lao động, trong sinh hoạt tập thể và hoạt động xã hội. Ông đã chứng minh chân lý giáo dục của học thuyết Mác – Lenin và khái quát thành các quan điểm giáo dục xã hội chủ nghĩa rất cơ bản đó là: - Giáo dục trong hoạt động xã hội. - Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể. - Giáo dục trong lao động.
- Giáo dục bằng tiền đồ viễn cảnh. “Triết học về sự phát triễn đạo đức” xuất bản năm 1971 của Kohlberg (1927 – 1987) là sự kế thừa những thành quả nghiên cứu của tâm lý học đạo đức và triết học đạo đức, đặc biệt là “Phán đoán đạo đức của trẻ em” (1932) của nhà tâm lý học Thụy Sĩ, Jean Piaget (1896 – 1980), triết học đạo đức của Immanuel Kant ( 1724 – 1804) và học thuyết về sự công bằng của John Rawls (1921). Kế thừa học thuyết của Piaget và kết quả thực nghiệm dựa trên phương pháp phỏng vấn về một tình huống khó xử cụ thể, Kohlberg đã đưa ra một học thuyết về sự phát triễn nhận thức đạo đức của con người có tính cấu trúc từ thấp lên cao [27]. Qúa trình đó chính là quá trình nhận thức đánh giá về sự công bằng.
Qúa trình này diễn ra liên tục, tuân theo một trình tự nhất định, trong đó có 3 cấp độ và 6 giai đoạn. Kế thừa tư tưởng 8 Luan van triết học đạo đức của Kant về tính hình thức của của quy luật đạo đức và giá trị tuyệt đối của con người, Kohlberg đã nhấn mạnh những nguyên tắc của sự công bằng, đặc biệt là là nguyên tắc tôn trọng phẩm giá con người, xem đó là nguyên tắc tối cao của quá trình nhận thức đạo đức: Mọi người đều bình đẳng và giá trị của của mỗi người là giá trị của một cá thể đặc biệt. Mặc dù học thuyết trên của Kohlberg còn nhiều hạn chế khi nó xem nhẹ tính lịch sử, tính giai cấp của quá trình phát triển nhận thức đạo đức nhưng việc nghiên cứu về nó giúp con người có thể hiểu thêm về những giá trị đạo đức văn minh của nhân loại, góp phần làm giàu tinh thần đạo đức dân tộc [23] Từ triết lý của C.Mác về bản chất xã hội của cá nhân là: “Tổng hòa các quan hệ xã hội” đến những lý luận về sự kết hợp giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục. Là một chặng đường dài hơn nửa thế kỷ của thế kỷ XX.
Tất cả những lý thuyết giáo dục xã hội chủ nghĩa là cơ sở lý luận cơ bản của việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp hiện nay. Vấn đề giáo dục đạo đức cũng được nhiều quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan, Phần Lan…đặc biệt quan tâm. Mỗi quốc gia trên thế giới thì có mục tiêu và triết lý giáo dục riêng cho công dân của mình khác nhau: Nhật Bản, giáo dục đạo đức tập trung vào ba điểm: Lòng tôn trọng cá nhân, quan hệ cá nhân, quan hệ cộng đồng. Khác với nhiều nước thực hiện giáo dục đạo đức chủ yếu thông qua các môn học tập trung trong chương trình giáo dục phổ thông, Nhật Bản thực hiện giáo dục đạo đức qua toàn thể môn học, qua các hoạt động đặc biệt và sinh hoạt hằng ngày.[27] Mỹ, giáo dục đạo đức cho học sinh theo những nội dung riêng, những nhà giáo dục luôn xác định giáo dục cho công dân của họ là sự tin cậy, tôn trọng, tinh thần trách nhiệm luôn đặt lên hàng đầu và công bằng, quan tâm và cả bổn phận công dân.
Bên cạnh đó những nhà giáo dục đất nước cờ hoa này cũng cung cấp cho học sinh những kiến thức và cơ hội thực hành. Những nhà giáo dục đưa ra mục tiêu như: giáo dục học sinh trở thành những công dân có trách nhiệm, hiểu biết và có thể tham gia hiệu quả vào đời sống chính trị, xã hội, của đất nước. Để thực hiện được 9 Luan van các nội dung và mục tiêu trên, các nhà giáo dục Mỹ đã dùng những phương pháp như là: nêu gương, giải thích, cổ vũ, khích lệ, bảo đảm môi trường đạo đức, trải nghiệm và kỳ vọng vào sự ưu tú. Phần Lan, triết lý giáo dục cơ bản là niềm tin vào khả năng của con người.
Tuyệt đối tin vào trẻ, mỗi trẻ đều có khả năng riêng của mình, trong hệ thống giáo dục mới, bài kiểm tra, công cụ trước nay dùng để đánh giá lại quá trình giảng dạy của thầy và đong đo kết quả của trò đã trở nên vô dụng và bãi bỏ. Chính sách giáo dục Phần Lan cũng tin rằng mỗi nhà trường đều có phương pháp phù hợp riêng và mỗi giáo viên cũng có cách dạy riêng để dạy học trò mình một cách tốt nhất. Bên cạnh đó, Phần Lan cũng có một nguyên tắc nữa là “không ai bị bỏ lại phía sau” nhưng cũng không vì thế mà được phép ngồi nhầm lớp. Nền giáo dục Phần Lan không hoạt động riêng lẻ một mình và kết nối, đồng hành cùng các lĩnh vực khác với giáo dục trong việc đào tạo trẻ.
Thái Lan, mục tiêu giáo dục đạo đức là giúp học sinh nhận thức được những điều tốt, biết quan tâm đến điều tốt và làm điều tốt. Các nội dung cụ thể là đáng tin cậy, trung thực và nói sự thật, tôn trọng, lịch sự và nhã nhặn, trách nhiệm, tính công bằng, sự chu đáo, tốt bụng, lòng thương, ý thức công dân. Phương pháp giáo dục chủ yếu của Thái Lan là phương pháp học tập hợp tác, phương pháp giáo dục truyền thống, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp sắm vai, phương pháp học tập qua kinh nghiệm. [27] Như vậy, nhìn chung qua các nền giáo dục trên thế giới nói chung và một số nước nói riêng, chúng ta có thể thấy rõ sự khác nhau giữa các nước về nội dung, phương pháp và mục tiêu giáo dục đạo đức choc học sinh.
Mỗi nền giáo dục phụ thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của từng quốc gia đó, trên cơ sở đó ra đời các hệ thống và triết lý khác nhau. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, các nhà giáo dục cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng hợp các quan điểm lý luận và thực tiễn về công tác giáo dục đạo đức. Các tác giả đã 10 Luan van chỉ ra vai trò, nhiệm vụ của nhà trường, gia đình, xã hội và sự cần thiết phải giáo dục đạo đức học sinh. Những nguyên tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức đạo đức cá nhân và xã hội đang tác động mạnh mẽ, thường xuyên đến các mối quan hệ ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội, nhắm hướng đến mục tiêu cao cả: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thời đại lịch sử nào đạo đức con người đều được đánh giá theo những chuẩn mực và quy tắc nhất định. Đạo đức là sản phẩm của xã hội, cùng với sự phát triễn của sản xuất, của các mối quan hệ trong xã hội, theo hệ thống quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triễn, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn. Đạo đức trở thành mục tiêu, động lực để phát triễn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa, một nhà giáo dục lớn và là một tấm gương sáng ngời về đạo đức, là hình ảnh mẫu mực của sự kết tinh những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người Việt Nam.
Việc giáo dục cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng và ý nghĩa, là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, Người đã căn dặn Đảng và Nhà nước phải chăm lo cho việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên, học sinh.