phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các công trình của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận án trình bày trong 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý phối hợp nhà trường với gia đình trong giáo dục đạo đức, pháp luật cho học sinh trung học cơ sở. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận của quản lý phối hợp nhà trường với gia đình trong giáo dục đạo đức, pháp luật cho học sinh trung học cơ sở. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý phối hợp nhà trường với gia đình trong giáo dục đạo đức, pháp luật cho học sinh trung học cơ sở thành phố Hà Nội.
Chƣơng 4: Giải pháp quản lý phối hợp nhà trường với gia đình trong giáo dục đạo đức, pháp luật cho học sinh trung học cơ sở thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN QUẢN LÝ PHỐI HỢP NHÀ TRƢỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Những công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức, pháp luật 1. Những công trình nghiên cứu quốc tế Luận án tiến sỹ: “Teaching moral education in secondary schools using real- life dilemmas” [4] của tác giả Vishalache Balakrishnan thực hiện năm 2009 tại Đại học Wellington, Victoria đã nghiên cứu các phương thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh.
Về mặt lý luận, nghiên cứu của tác giả đã làm rõ nội hàm đạo đức, theo các trường phái nghiên cứu khác nhau từ học thuyết của Socrates (470-399 TCN) đến quan điểm của Khổng Tử (551-479 TCN) về đạo đức; ngoài ra tác giả cũng đã chỉ ra những đặc điểm về đạo đức đối với học sinh Malaysia, vốn là đất nước đa dân tộc, đa tôn giáo. Luận điểm của tác giả cho rằng, vì đặc điểm thực tế về con người, văn hóa, tôn giáo nên phương thức giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường trung học Malaysia phải đổi mới theo hướng khuyến khích nhiều hơn sự chủ động của học sinh để đạt hiệu quả giáo dục. Về mặt thực tiễn, phương pháp thực nghiệm khoa học được tác giả lựa chọn để tiến hành nghiên cứu về cách thức thực hiện phương pháp giáo dục đạo đức, cụ thể là phương pháp để học sinh làm chủ, giáo viên giả định những vấn đề thực tiễn, học sinh tự thảo luận, tranh luận. Đối tượng nghiên cứu là các em học sinh trung học, được lựa chọn theo các tiêu chí: giới tính, điều kiện gia đình, tôn giáo.
Tuy nhiên, bên cạnh những phân tích định tính, luận án của tác giả chưa sử dụng phân tích định lượng để đo lường chính xác hiệu quả của phương pháp giáo dục mới. Ngoài ra, vai trò của gia đình trong giáo dục đạo đức cho học sinh chưa được coi trọng. Luận án tiến sỹ “The Moral Education curriculum and policy in Chinese Junior High School: Chances and Challenges” [15] của tác giả Guang Yuan Hu thực hiện năm 2010 tại đại học Alabama, Hoa Kỳ đã đưa ra những phân tích nhằm đánh giá mục đích chương trình giáo dục đạo đức, đánh giá hiệu quả triển khai chương trình giáo dục đạo đức, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các biến đổi xã hội đối với việc giảng dạy môn đạo đức cũng như khảo nghiệm việc thực thi những chính sách mới trong bối cảnh hội nhập liên quan đến chương trình giáo dục đạo đức trong trường trung học tại Trung Quốc. Luận điểm xuyên suốt luận án được tác giả đưa ra, đó là trước bối cảnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế phát triển gây nên 11 nhiều ảnh hưởng đến xã hội theo cả hai hướng tiêu cực và tích cực.
Để giảm thiểu những tác động của mặt trái xã hội, việc giáo dục đạo đức cho công dân cần có những thay đổi về chính sách giáo dục đối với giáo viên, học sinh, gia đình. Thêm vào đó là những thay đổi trong nội dung chương trình giáo dục. Số liệu khảo sát để minh chứng cho những nhận định của tác giả được lấy từ 25 trường trung học trên toàn Trung Quốc, cả từ vùng thành thị và nông thôn. Kết quả khảo sát dùng để đối chiếu so sánh hiệu quả việc thực thi chính sách mới về giáo dục đạo đức đối với học sinh.
Tuy tác giả có thực hiện điều tra về các phương thức giáo dục đạo đức mới phát huy hơn tính năng động của học sinh nhưng luận án chưa nghiên cứu sâu về phương thức giáo dục ngoài giờ lên lớp. Việc phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục chưa được đề cập cụ thể, chi tiết. Những công trình nghiên cứu trong nước Luận án tiến sỹ: “Quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay” [21] của tác giả Nguyễn Văn Nam thực hiện tại Đại học Luật Hà Nội năm 2012 đã luận giải về mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật và đạo đức. Theo đó, đạo đức là nền tảng để hình thành nên ý thức chấp hành pháp luật trong mỗi con người.
Việc giáo dục đạo đức là nền tảng hình thành ý thức chấp hành pháp luật của mỗi công dân, từ đó nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật cũng như quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước. Ngược lại, việc hoàn thiện thể chế nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa điều chỉnh mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật theo hướng phù hợp với điều kiện thực tiễn. Vì vậy, đạo đức, giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật có mối quan hệ biện chứng, không tách rời, tác động qua lại đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tác giả sử dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác Lê nin để biện giải các luận điểm về những ảnh hưởng của việc xây dựng nhà nước pháp quyền đến mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức ở Việt Nam cũng như chỉ rõ những đặc điểm cơ bản của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay.
Trên cơ sở khảo sát thực trạng quan hệ giữa pháp luật và đạo đức tại Việt Nam, tác giả đề xuất các biện pháp kết hợp pháp luật và đạo đức nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh quan hệ xã hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của luận án chỉ có giá trị tham khảo đối với các cơ quan tổ chức, thực hiện, bảo vệ pháp luật, chưa có cơ sở để nghiên cứu áp dụng trong các ngành khoa học khác. 12 Luận án tiến sỹ triết học: “Giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay (qua thực tế các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội)” [14] của tác giả Phùng Thu Hiền thực hiện năm 2015 đã phân tích, làm rõ nội hàm khái niệm nhân cách bao gồm những nội dung sau: phẩm chất vè đạo đức, trí tuệ, năng lực…Tuy nhiên luận án chỉ tập trung nghiên cứu xem xét cấu trúc nhân cách gồm đức và tài. Lập luận của tác giả khảng định: tài và đức mà cụ thể là giá trị đạo đức truyền thống là hai yếu tố tiên quyết hình thành nên nhân cách; Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử, tác giả đã phân tích và làm rõ tầm quan trọng cũng như vai trò của những giá trị đạo đức truyền thống trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người.
Về mặt thực tiễn, tác giả đã có những đánh giá, phân tích thực trạng giáo dục đạo đức truyền thống từ đó hình thành nhân cách của sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội. Số liệu được thu thập từ năm 1986 đến nay. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đã đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm phát huy hơn nữa việc giáo dục đạo đức truyền thống trong việc hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên. Tuy nhiên, các phân tích của tác giả chủ yếu là định tính, luận án của tác giả chưa sử dụng phương pháp định lượng, xử lý số liệu làm căn cứ để phân tích tác động của giá trị đạo đức truyền thống đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu về phối hợp nhà trƣờng với gia đình trong giáo dục đạo đức, pháp luật cho học sinh 1. Những công trình nghiên cứu quốc tế Công trình nghiên cứu khoa học: “Strategies for Effective Collaboration with Parents, Schools and Community Members” [20] do tổ chức giáo dục cộng đồng Rutger thực hiện tại bang New Jersey, Hoa kỳ, năm 2009 đã nghiên cứu và đề xuất những mô hình phối hợp có hiệu quả giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng trong giáo dục trẻ vị thành niên nhằm mục đích làm ngăn chặn các tác động tiêu cực từ ma túy, chất kích thích, bạo lực đến các em. Đối tượng điều tra, khảo sát bao gồm các gia đình nằm trong khu vực có tình hình trật tự phức tạp và các gia đình không nằm trong khu vực tình hình phức tạp. Căn cứ kết quả điều tra, nhóm các tác giả nhận thấy, địa bàn dân cư không ảnh hưởng nhiều đến việc trẻ vị thành niên tham gia vào các vụ bạo lực, sử dụng ma túy hay chất kích thích đối với các gia đình có sự liên kết chặt chẽ với nhà trường và ngược lại.
Từ đó, nhóm các tác giả đề xuất các mô hình phối hợp như sau: Mối liên kết phối hợp nhà trường với gia đình là mối liên kết đối tác, trên cơ sở đôi bên cùng có lợi và tận dụng các ưu thế của các bên. 13 Các bên tuyệt đối tôn trọng lẫn nhau và trợ giúp nhau trong quá trình thực hiện phối hợp. Thứ hai là mô hình “nhà trường mở”. Nhà trường mở là một khái niệm nhằm để chỉ ra rằng nhà trường không chỉ giành cho học sinh mà còn khuyến khích gia đình tham gia vào các hoạt động trong nhà trường theo nhiều cách khác nhau.
Thứ ba, nhà trường sẽ là nơi để tiếp nhận các thông tin phản ánh từ gia đình để cùng gia đình bàn thảo hướng xử lý, giải quyết. Theo quan điểm của tác giả, công trình nghiên cứu khoa học của tổ chức giáo dục và cộng động Rutger mang nhiều ưu điểm có thể áp dụng trong luận án. Điển hình là cách thức tiếp cận quá trình.