Phần mở đầu. Phần nội dung gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 6 Luan van Chƣơng II: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Trƣờng Tiểu học Nguyễn Văn Triết. Chƣơng III: Tích hợp nội dung giáo dục đạo đức vào phân môn Tập đọc của môn Tiếng Việt cho học sinh lớp ba ở Trƣờng Tiểu học Nguyễn Văn Triết, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết luận Kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 7 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đƣợc phản ánh dƣới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực, quy tắc điều chỉnh hành vi của con ngƣời trong các mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên, xã hội, lao động của con ngƣời. Đạo đức đƣợc hình thành từ rất sớm và đƣợc mọi xã hội, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm. Giáo dục đạo đức là một vấn đề thiết thực và quan trọng góp phần trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho con ngƣời thích ứng với từng giai đoạn phát triển của xã hội. Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh cũng đƣợc rất nhiều gia đình, nhà trƣờng và xã hội chú trọng, đặc biệt là ở lứa tuổi tiểu học.
Vì vậy, đây cũng là vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục trong và ngoài nƣớc quan tâm. Trên thế giới Ở phƣơng Đông, thời cổ đại, Khổng Tử (551 – 479 TCN) – nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc và cũng là nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo. Ông rất coi trọng vai trò của giáo dục đạo đức trong nhân cách con ngƣời. Ông xây dựng học thuyết “Nhân – Trí – Dũng”, trong đó “Nhân” là lòng thƣơng ngƣời, là đạo đức cơ bản nhất của con ngƣời.
Theo Khổng Tử, tình cảm giữa cha mẹ và con cái, giữa chồng và vợ, giữa anh em với nhau (quan hệ gia đình) là những tình cảm tự nhiên, vốn có thuộc về bản tính con ngƣời. Ông cho rằng đạo làm ngƣời phải tận hiếu với cha mẹ. Một ngƣời biết yêu thƣơng cha mẹ thì mới biết yêu thƣơng ngƣời ngoài. Khổng Tử bàn đến đạo đức từ xuất phát điểm đầu tiên là gia đình, từ đó suy rộng ra đến quốc gia và thiên hạ, “Ở nhà thì ăn ở hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì kính trọng nhường nhịn các bậc huynh trưởng; nên ít lời và đã nói thì phải thành thực, nên thân yêu rộng khắp mọi người” [43].
Đứng trên lập trƣờng coi trọng giáo 8 Luan van dục đạo đức, ông chủ trƣơng nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Lễ trị”. Lấy “Lễ” để ứng xử ở đời. Muốn vậy, mỗi ngƣời phải biết tu thân làm gốc [22, tr. Nhà triết học Aristotle (384 – 322 TCN) cho rằng hành vi tốt của con ngƣời bắt đầu từ chỗ chúng ta có khả năng có tính nết tốt, nhƣng khả năng ấy phải đƣợc phát triển bằng thực hành, thông qua các hành vi đạo đức.
Con ngƣời sẽ trở nên đạo đức bằng cách làm những việc đạo đức. Về mặt đạo đức học, ông thẳng thắn hƣớng đến mục đích hoạt động của con ngƣời. Ông quan tâm đến hành vi, không phải hành vi tự nó đúng bất chấp mọi nhận định khác, mà là hành vi đƣa đến điều thiện cho con ngƣời. “Mọi nghệ thuật và mọi đòi hỏi, mọi hành vi và lựa chọn, hình như nhắm đến một điều thiện nào đó; vì thế sự thiện đã được định nghĩa đúng là cái mà mọi vật nhắm đến” [51].
Aristotle xem đạo đức là cái thiện của cá nhân, còn chính trị là cái thiện của xã hội. Ông đã nói đến đức dục trong ba mặt: Thể, Đức, Trí [21, tr. Ở Phƣơng tây, nhà triết học Socrate (469 – 399 TCN) đã hƣớng triết học vào mục đích giáo dục con ngƣời sống có đạo đức và cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con ngƣời vốn thiện, nếu tính thiện ấy đƣợc lan toả thì con ngƣời sẽ có hạnh phúc.
Ông cho rằng đạo đức hay cái thiện cũng là một loại tri thức, mà ta có thể tự trau dồi. “Không ai có thể cố tình muốn làm điều ác”. Thiếu nhận thức đúng đắn chính là lý do duy nhất khiến bản thân không thể kiềm chế đƣợc chính mình trƣớc những cám dỗ tội lỗi, bởi lẽ bất cứ ngƣời nào biết điều gì là đúng đắn tất sẽ thực hiện điều đó. “Người ta không thể muốn điều ác nếu người ta có tri thức chính xác về sự thiện”.
Con ngƣời có thể tự hoàn thiện bản thân qua giáo dục và việc “tự suy xét”. Vì thế, triết học của ông quan tâm nhiều đến con ngƣời, dạy đạo đức cho con ngƣời [33]. Petxtalozi (1746 – 1827) rất quan tâm đến sự phát triển toàn diện của con ngƣời và ông cũng đề cao việc phát triển căn cứ vào quy luật của tự nhiên “Giáo dục phải phù hợp với tự nhiên”. Ông cho rằng nhiệm vụ trung tâm của giáo dục là giáo dục đạo đức cho trẻ em dựa trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con ngƣời.
Tình yêu đó bắt nguồn từ gia đình, trƣớc hết là đối với cha mẹ, anh chị em rồi đến thầy, bạn bè và mọi ngƣời trong xã hội. Theo Petxtalozi, gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng 9 Luan van đối với sự phát triển của trẻ. Tình yêu thƣơng con ngƣời của trẻ em sớm hình thành trong gia đình sẽ tiếp tục đƣợc củng cố và phát triển trong nhà trƣờng. Và theo quan điểm của ông, giáo dục đạo đức cho học sinh phải thực hiện bằng hành động rèn luyện chứ không phải bằng cách dạy trẻ những bài thuyết giáo về đạo đức [39, tr.Anghen (1820 – 1895) đã khẳng định rằng, về thực chất và xét đến cùng, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các quan niệm đạo đức chẳng qua chỉ là sản phẩm của các chế độ kinh tế, các thời đại kinh tế.
Đồng thời, đạo đức còn bị chi phối bởi những yếu tố mang tính dân tộc, “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về Thiện - Ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau” [12, tr.Anghen cho rằng ý thức đạo đức là sản phẩm của những hình thái kinh tế - xã hội cụ thể, nó phản ánh thực tiễn đạo đức của xã hội, “xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ. Và vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp” [13, tr. Cômenxki (1952 – 1670) đã có nhiều đóng góp trong lĩnh vực giáo dục không chỉ bằng tấm gƣơng về đạo đức của đời mình mà phƣơng pháp giáo dục đạo đức của ông rất chú trọng đến hành vi và động cơ đạo đức [20, tr.Makarenko (1888 – 1939) cho rằng, tính logic của quá trình giáo dục không xuất phát từ việc lựa chọn các phƣơng tiện giáo dục mà phụ thuộc vào tính mục đích của quá trình giáo dục. “Chúng ta không chỉ giáo dục nên những con người giàu óc sáng tạo, những công dân có khả năng tham gia có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, mà phải giáo dục những con người nhất thiết có hạnh phúc.
Muốn vậy phải giáo dục hành vi, phẩm chất của con người có tính trung thực, ý chí dũng cảm, tính chính xác, tính tháo vát, tính tổ chức và kỷ luật…” [2, tr. Theo ông, không có khái niệm “Trẻ em hư hỏng” mà chỉ có “Những nhà sư phạm chưa đúng”. “Không có kẻ phạm pháp đặc biệt nào hết, chỉ có những người rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Tôi hiểu rằng nếu thời thơ ấu tôi cũng rơi vào một hoàn cảnh 10 Luan van như thế thì tôi cũng trở thành người như các em.
Và bất kỳ một đứa trẻ nào bị ném ra ngoài đường phố, không có người giúp đỡ, không có xã hội, không có tập thể, không có bạn bè, không có kinh nghiệm, không có tương lai, thần kinh lại bị kiệt sức vì mệt mỏi… thì mọi đứa trẻ bình thường cũng cư xử như các em thôi” [39, tr. Bên cạnh đó, Makarenko đặc biệt quan tâm đến phẩm chất nhân cách, năng lực của ngƣời làm giáo dục và biến những yêu cầu đối với công việc này thành điều kiện tất yếu không thể thiếu. Theo ông, ngƣời giáo dục là ngƣời có phẩm chất cao, hình mẫu chuẩn mực cho học sinh, phải có khả năng điều khiển học sinh và biết xử lý mọi cử chỉ, hành động của bản thân để việc giáo dục đạt hiệu quả [1]. Xukhômlinxki (1918 – 1970) là ngƣời giáo viên tiểu học trƣờng làng trở thành viện sĩ thông tấn viện Hàn Lâm Khoa học Giáo dục.
Tác phẩm “Giáo dục con người chân chính như thế nào?” của Xukhômlinxki, dƣới hình thức những lời khuyên bảo của nhà giáo dục với trẻ em, thanh thiếu niên và những lời của tác giả nói với các nhà giáo dục. Ông trình bày một cách cụ thể, sinh động, hấp dẫn các phạm trù đạo đức, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức cùng phƣơng pháp hình thành chúng trong học sinh. Giáo dục cho học sinh biết sống đúng, hành động đúng, có thái độ đúng đối với bản thân và đối với ngƣời khác. “Muốn cho lý tưởng đạo đức trở thành hiện thực, cần dạy cho con người biết sống đúng, hành động đúng, có thái độ đúng đối với bản thân và đối với người khác”.
Xukhomlinxki đã nêu lên nhiều kinh nghiệm phối hợp các lực lƣợng giáo dục xã hội, gia đình, nhà trƣờng, tận dụng những điều kiện xã hội, tự nhiên vào quá trình giáo dục thế hệ trẻ [56, tr.Lênin (1870 – 1924) trong công trình nghiên cứu của mình đã viết: “Đạo đức giúp cho xã hội loài người tiến lên cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động” [57, tr. Theo ông, việc hình thành con ngƣời phát triển toàn diện không chỉ là trách nhiệm của riêng nhà trƣờng mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của gia đình, đoàn thể, và sự tự rèn luyện của thế hệ trẻ. Giáo dục đạo đức cũng đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm và chú trọng. Ngành giáo dục ở Nhật Bản có vị trí hàng đầu thế giới hiện nay vốn đƣợc xây dựng trên triết lý “con ngƣời = đạo đức”, đề cao tuyệt đối tính kỷ luật và tinh 11 Luan van thần tự lập.