CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành rất sớm trong lịch sử, được mọi xã hội, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm. Từ xa xưa, con người đã rất quan tâm đến việc nghiên cứu đạo đức, xem nó như điều không thể thiếu trong việc hoàn thiện nhân cách của con người.
Ở phương Tây, thời Cổ đại, nhà triết học Socrate (469 – 399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người là vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc. Muốn xác định được chuẩn mực của đạo đức, theo Socrate phải bằng nhận thức lý tính với nhận thức phương pháp khoa học [8,18] Thế kỷ XVII, Komenxky, nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GGĐĐ qua tác phẩm “ Lý luận dạy học vĩ đại”. Komenxky đã chú trọng môi trường bên trong và bên ngoài để giáo dục đạo đức cho HS [15,34] Thế kỷ XX, môt số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu về GGĐĐ như: AC.Những nghiên cứu của họ đã đặt nền tảng cho việc GGĐĐ mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô.
Macarenco (1888 – 1939) kiên trì đường lối giáo dục lao động qua “Trại cải tạo các trẻ em phạm pháp”. Ông đã tổng kết những kinh nghiệm của mình qua các tác phẩm: “Bài ca sư phạm”, “Những ngọn cờ trên tháp”, “Cuốn sách của những người làm cha làm mẹ”, “Những tấm lòng cao cả” [22,15]. Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc Cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của Triết học Trung Quốc Cổ đại.
Đạo có nghĩa là con đường, là đường đi. Về sau, khái niệm đạo được vận dụng trong Triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội. Khổng Tử (551 – 479 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc.
Ông đã xây dựng học thuyết “ Nhân-Lễ-Chính danh”. Trong đó chữ “ Nhân “ được hiểu là 7 Luan van lòng yêu thương người, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người. Những nghiên cứu trong nước Ở nước ta đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức và GGĐĐ cho học sinh. Chủ Tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam - đặc biệt quan tâm đến đạo đức và rèn luyện đạo đức cho con người.
Bác cho rằng đạo đức cách mạng là cái gốc, là nền tảng của người cách mạng. Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triểnvà củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Đây phải xem là việc làm thường xuyên, tích cực trau dồi nhân cách, bồi đắp những giá trị đạo đức, sống chân thành, trung thực, yêu thương con người, có lòng nhân ái trong quan hệ với con người và cộng đồng, có hành vi ứng xử có văn hóa. Bác còn căn dặn Đảng ta phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên thanh niên, học sinh thành những người thừa kế, xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên”.[40,25] Cuộc đời chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, là kết tinh những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam mà chúng ta phải học tập và noi theo.
Bác coi trọng nội dung cơ bản trong quan điểm đạo đức cách mạng là: “Trung với nưới nước, hiếu với dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, yêu thương con người, tinh thần quốc tế trong sáng”. Đó cũng là đạo học làm người, tức là học nhân, học đức. Bác đã dạy, thiếu đức, không thành người. Trách nhiệm của xã hội là phải quan tâm đầy đủ đến vấn đề đạo đức, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức tiến bộ góp phần khắc phục sự suy thoái về đạo đức trong xã hội nói chung và trong trường học nói riêng.
Có như vậy nó mới nuôi dưỡng và phát triển con người. Nhà giáo dục Phạm Minh Hạc - người suốt đời theo đuổi “Giá trị con người” đã nêu rõ khi nói về mục tiêu của GDĐĐ: “Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hóa xã hội. Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niền tin, đạo đức trong 8 Luan van sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh. Tổ chức tốt giáo dục giới trẻ, rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.” [11,tr168] Theo ông, nấc thang phát triển cao nhất của con người chính là "nhân cách".
Nhân cách thể hiện sự phân biệt khi nào bản thân là chủ thể, khi nào bản thân là khách thể. Dưới góc độ của giá trị học, nhân cách con người chính là hệ thống các thái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng đồng và xã hội; mức độ phù hợp càng cao, thì nhân cách càng lớn, có tính độc lập càng cao. Như vậy, nhân cách con người đước đánh giá bằng chuẩn mực (hệ giá trị) của xã hội; bằng sự đóng góp của cá nhân cho cộng đồng xã hội. Nhiệm vụ của người lãnh đạo là phải làm cho nhân cách mỗi người hướng tới gần hệ giá trị của đất nước.
Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công phu, tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiểm (NXB Chính trị quốc gia, 1977); Phạm Khắc Chương – Hà Nhật Thăng (NXB Giáo dục, 2001); Giáo dục đạo đức học của tác giả Nguyễn Ngọc Long chủ biên, (NXB Chính trị quốc gia, 2000); Giáo trình đạo đức học Mác – Lê nin, Vũ Trọng Dung chủ biên, (NXB Chính trị quốc gia, 2005). Vấn đề GDĐĐ cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Đặc trưng của đạo đức và phương pháp giáo dục đạo đức (Hoàng An, 1982); Giáo dục đạo đức trong nhà trường (Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt , 1988); Các nhiệm vụ giáo dục đạo đức (Nguyễn Sinh Huy, 1995); Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường (Thái Duy Tuyên, chủ biên, 1994); Giáo dục hệ thống giáo giá trị đạo đức nhân văn (Hà Nhật Thăng, 1998); Một số vấn đề về lối sống đạo đức, chuẩn giá trị xã hội (Huỳnh Khái Vinh. 2011); Giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh, sinh viên (Phạm Minh Hạc, 1997); Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường (Lê Văn Khoa, 2003); Một số nguyên tắc giáo dục nhân cách có hiệu quả trong nhà trường phổ thông (Nguyễn Thị Kim Dung, 2005). 9 Luan van Công cuộc đổi mới ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề, trong đó vấn đề GGĐĐ được xem là vô cùng quan trọng.
Có thể nói rằng, chưa bao giờ sự nghiệp giáo dục ở nước ta lại chịu nhiều tác động đến như vậy. Vì thế, những nhà giáo dục cần tăng cường, đẩy mạnh việc GDĐĐ cho học sinh. Đây là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong công cuộc đổi mới về kinh tế - xã hội, là đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp phát triển con người trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Với việc nghiên cứu GDĐĐ cũng đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu như : - Nguyễn Ngọc Chuyên: “Giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS Thành phố Móng Cái, tỉnh QuảngNinh”, năm 2010 [6] - Phan Hồ Hải: “ Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác GGĐĐ ở các trường THPT trên địa bàn Quận Bình Thạnh, TP.
Hồ Chí Minh”, năm 2010 [11] - Từ Ngọc Long: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai”, năm 2011 [23] - Lê Thanh Hải: “ Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS ở các trường THCS vùng ven biển huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa”, năm 2011 [10] Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học ở quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì thế, luận văn của chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề này. Một số khái niệm cơ bản 1. Đạo đức Có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức.
- Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người. Nhưng bên trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống”. Theo nghĩa rộng, 10 Luan van khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật đời sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá.
Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn.[10,tr26] - Theo tác giả Trần Hậu Kiểm “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội.” [18, tr31] Trước đây, đạo đức đồng nghĩa với “luân lý”, đó là những qui định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người.