Chương 1. Cơ sở lý luận về ý thức pháp luật của đồng bao dân tộc thiểu số ở Việt Nam Chương 2. Thực trạng và giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của đồng bảo đân tộc thiêu số ở Việt Nam hiện nay 11 NỘI DUNG CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE Ý THỨC PHÁP LUAT CUA DONG BAO DÂN TỘC THIEU SO Ở VIỆT NAM 1.
Quan niệm về đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam Khái niệm “dan tộc thiểu số” được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên trong các văn bản của các định chế tài chính quốc tế như Ngân hang Thé giới (WB), Ngân hang Phát triển châu A (ADB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), hoặc các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc (UN), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), người ta thường sử dụng khái niệm người ban dia, hay các dân tộc ban dia thay cho khái niệm DTTS như cách gọi của chúng tal. Trong bối cảnh đó, các khái niệm DTTS, dan tộc ban địa hay người bản địa thường được sử dụng theo những ý nghĩa khác nhau ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thé trên khắp thé giới do tinh chất nhạy cảm từ các góc độ chính trị, lich sử, kinh tế, tôn giáo, chủng tộc, tộc người và xã hội. Đối với các định chế tài chính quốc tế hang dau về phát triển, trong đó có Ngân hàng Thế giới thì khái niệm DTTS hoặc dân tộc bản địa có đặc tính và bản sắc văn hóa liên hệ chặt chẽ tới vùng đất mà họ sinh sống và nguồn tài nguyên thiên nhiên mà sinh kế của họ phu thuộc vào do.” Thuật ngữ “dân tộc thiểu số” theo nghĩa chung nhằm dé chỉ nhóm người dé bị tôn thương, có ban sắc văn hóa xã hội khác biệt và có những đặc điểm ở các mức độ khác nhau.
Cu thé, “dân tộc thiểu số” thé hiện trong mối tương quan về số lượng dân sỐ (nhân khâu) giữa các nhóm dân tộc trong một quốc gia. Nếu như dân tộc đa 1! The United Nations General Assembly. United Nations declaration on the rights of indigenous peoples, UN Wash. Indigenous peoples, poverty and human development in Latin America: 1994-2004.
The World Bank 12 số là đân tộc chiếm số lượng đông nhất, trên 50% dân số trong một quốc gia thì ngược lại, “dân tộc thiểu số” là các dân tộc chiếm số dân ít hơn so với đân tộc đông nhất, tức là các dân tộc còn lại. Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, thuật ngữ DTTS được sử dụng chính thức và định nghĩa là những dân tộc có số dan ít hơn so với đân tộc đa số trên phạm vi lãnh thé nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, ngoài dân tộc Kinh là dân tộc đa sỐ chiếm gần 86% dan số cả nước, 53 dân tộc còn lại là các DTTS chỉ chiếm tông cộng hơn 14% dân sé. Cùng với khái niệm DTTS thì ở Việt Nam còn có khái niệm vùng đồng bào DTTS. Vùng DTTS ở Việt Nam được hiểu là địa bàn có đông các DTTS cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thé nước Cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.‘ Hiện tại trên lãnh thổ Việt Nam có 3434 xã thuộc vùng đồng bào DTTS và miễn núi thuộc 51 tỉnh, thành phó." Đặc điểm chung của các DTTS va vùng DTTS ở Việt Nam là đồng bao thường có địa bàn cư trú ở các vùng trung du, miễn núi và vùng cao, một số dân tộc như Khmer, Hoa, một số ít người Chăm sống ở đồng bằng.
Dia ban cu trú của các DTTS có vị tri chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ bén vững môi trường sinh thái. Day là dia ban có nguồn tài nguyên phong phú, da dang, có hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước và bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Các DTTS cư trú tương đối tập trung, song xen kế nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như ở một số nước trên thế giới. Hiện nay, ở miễn núi hầu như > Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của chính Phủ về Công tác dan tộc .„ Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của chính Phủ về Công tác dân tộc * Quyết định số 467/QĐ-TTg của Thủ tướng chính Phủ về Tích hop các chính sách hỗ trợ thông tin, tuyên truyền cho hộ nghèo, đồng bảo dan tộc it người, miền nui, vùng sâu, vùng xa, biên giới va hai đảo 13 không có tỉnh, huyện nào chỉ có một dân tộc cư trú.
Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang. Phan lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản, buôn có tới 3 đến 4 đân tộc cùng sinh sống. Tinh trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế - văn hóa, cũng như hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
Do địa ban cư trú, phong tục tập quán và tâm lý, lỗi sống của các dân tộc, nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng DTTS không đồng đều. Một số dân tộc có đân số ít, ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế - xã hội còn gặp khó khăn, như: Si La, Pu Péo, Ro Mam, Brau, Ơ Du. Mỗi DTTS đều có phong tục, tập quán, tâm lý, lỗi sống, tín ngưỡng tôn giáo mang tinh đặc thu, tạo nên những sắc thái văn hóa riêng của từng dân tộc, tổn tại và phát triển trong tính đa dạng và thống nhất của nên văn hóa các dan tộc Việt Nam. Vùng DTTS có nên kinh tế con chậm phát triển và không đồng đều.
Kết cầu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, dịch vụ) vẫn còn khó khăn, nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái. Tỉ lệ hộ đói nghèo ở vùng DTTS thường cao hơn so với bình quân chung cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, giữa các vùng ngày cảng gia tăng: chất lượng, hiệu quá vé giáo dục dao tao còn thấp, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bao DTTS gặp nhiều khó khăn, một số bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các DTTS đang bị mai một, một số tap quan lac hậu như tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, mê tin di đoan có xu hướng phát triển. Như vậy, từ những phân tích nêu trên, quan niệm về dân tộc thiểu số ở Việt Nam có thé được hiểu van tắt là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thé nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thường có địa bàn cư trú ở các vùng trung du, miên núi và vùng cao. Khái niệm ý thức pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam Ý thức pháp luật ra đời, tén tại, phát triển từ nhu cầu khách quan của đời sống xã hội nhằm thiết lập một xã hội có trật tự, én định va phat trién vi loi ich của giai cấp thống trị va cộng đồng xã hội.
Y thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội cơ bản của ý thức xã hội, y thức pháp luật phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế - xã hội, chịu ảnh hưởng của các tư tưởng va quan điểm giai cấp trong xã hội. Do mục đích và đứng trên phương điện nghiên cứu khác nhau, có nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật. Theo quan điểm của các nhà luật học: “ý thite pháp luật là một hình thái y thức xã hội, bao gôm tất cả những học thuyết, quan điểm, tư tưởng, tình cam của con người, thé hiện tình cảm, tinh đánh giá về tinh công bang hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ, pháp luật can có, về tính hợp pháp trong hành vi xu sự của con người, trong hoạt động của cơ quan Nhà nước hay tô chức xã hội và của các chủ thé khác”5. Quan niệm này cho thay, ý thức pháp luật là tat cả các học thuyết, quan điểm, tư tưởng, tình cảm con người thé hiện thái độ về tính công bằng hay không công bang, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành.
Tác gia Hoàng Thị Kim Qué cho rằng: “Ý thire pháp luật là tổng thé những tư tưởng, học thuyết, quan điểm, thái độ, tinh cảm, sự đánh Siá của con người về pháp luật trên các phương điện, tiêu chí cơ bản như: về sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò, chức năng của pháp luật, về tính công bằng hay không công bang, đúng đắn hay không đúng dan của các quy định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá khứ, pháp luật cần phải có, và tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của các cả nhân, nhà nước, các tổ Š Học viện Chính trị — Hanh chính quốc gia (2009), Giáo trình Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. Quan điểm nay cho ý thức pháp luật là tổng thé những tư tưởng, học thuyết, quan điểm, thái độ, tình cảm, sự đánh gia của con người về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành. Theo tác giả Dao Duy Tan, “ý thite pháp luật là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyên và nghĩa vụ của nhà nước, các tô chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội”. Quan niệm này chỉ ra tính giai cấp của ý thức pháp luật, vé vai trò của ý thức pháp luật va tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội.
Theo quan điểm của Lê Đình Khiên “ý thite pháp luật là sự phản ánh sáng tao đời sống pháp luật của con người; con người nhận thức, đánh giá và thê hiện thái độ của mình trước các hiện tượng pháp luật”. Theo quan điểm này, ý thức pháp luật phản ánh sáng tạo đời sống pháp luật của con người và con người đánh giá, thé hiện thái độ trước các hiện tượng pháp luật.