đặt vấn đề trên, có thể hiểu: Giảm nghèo bền vững là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo và không dẫn đến tình trạng tái nghèo. Các tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo - Tiêu chí chuẩn nghèo của thế giới: + Tiêu chí chuẩn nghèo của nhiều nước và tổ chức trên thế giới chủ yếu dựa trên lượng calo/ngày/người. Theo Ngân hàng thế giới (WB), từ những năm 80 cho đến nay chuẩn mực để xác định ranh giới giữa người giàu với người nghèo ở các nước đang phát triển và các nước ở khu vực ASEAN được xác định bằng mức chi phí lương thực, thực phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100-2300 calo/ngày/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370 USD/người/năm. Nhìn chung, chuẩn nghèo của WB đưa ra là khá đơn giản, dễ áp dụng.
Tuy nhiên, các quốc gia đều đưa ra chuẩn nghèo riêng của từng nước nhưng mức chuẩn nghèo thường thấp hơn chuẩn nghèo mà WB đề ra. + Ở các nước khác nhau, mức chuẩn nghèo cũng khác nhau. Ấn Độ lấy tiêu chuẩn là 2250 calo/ngày/người; Bănglađesh lấy tiêu chuẩn là 2100 calo/người/ngày; ở Inđonêxia vào đầu những năm 80 lấy mức tiêu dùng nhiệt lượng là 2100 calo/người/ngày làm mức chuẩn để xác định ranh giới giữa giàu với nghèo; ở Trung Quốc năm 1990 nước này lấy mức tiêu dùng là 2150 calo/người/ngày, hiện nay có sự phát triển hơn. Các nước công nghiệp phát triển ở châu Âu lấy chuẩn khá cao là 2570 calo/người/ngày, cao hơn chuẩn nghèo của WB.
- Tiêu chí chuẩn nghèo của Việt Nam: 19 Luan van + Tiêu chí chuẩn nghèo dựa trên lượng calo/ngày/người. Năm 1993, ở Việt Nam theo Tổng cục Thống kê thống nhất lấy mức tiêu dùng là 2100 calo/người/ngày là trung bình, nếu quy đổi tương đương với lượng tiêu dùng lương thực, thực phẩm theo giá phù hợp với từng thời điểm, từng địa phương thì người dân Việt Nam có mức thu nhập bình quân. Chuẩn nghèo là tiêu chí nhằm xác định ai là người nghèo để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của Nhà nước, nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo. + Chuẩn nghèo thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể.
Trong thời gian qua, ở Việt Nam việc áp dụng các tiêu chí cụ thể cho hộ nghèo, người nghèo thay đổi theo thời gian và từng giai đoạn cụ thể: Chuẩn nghèo giai đoạn 1993 - 1995; chuẩn nghèo giai đoạn 1996 - 1997; chuẩn nghèo giai đoạn 1998 - 2000; chuẩn nghèo giai đoạn 2001 - 2005; chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010, chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015; chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020. Phạm vi luận văn nghiên cứu thực trạng và giải pháp về quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối với đồng bào DTTS trên địa bàn huyện từ năm 2011 - tháng 6/2018, nên tác giả chỉ đề cập cụ thể chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 và chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020. + Chuẩn nghèo bao gồm cả người nghèo và hộ nghèo, cả mức thu nhập và mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. - Tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015: Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg, ngày 30/01/2011 của Chính phủ quy định tiêu chí xác định chuẩn nghèo cụ thể như sau: + Hộ nghèo: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (Từ 4.000đồng/người/năm) trở xuống.
20 Luan van Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (Từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. + Hộ cận nghèo: Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng. - Tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020: Theo Quyết định số 1614/QĐ-TTg, ngày 15/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020”, xây dựng các tiêu chí đo lường nghèo như sau: + Các tiêu chí về thu nhập: Chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập đảm bảo chi trả được những nhu cầu tối thiểu nhất mà mỗi người cần phải có để sinh sống, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
Chuẩn nghèo về thu nhập là mức thu nhập mà nếu hộ gia đình có thu nhập dưới mức đó sẽ được coi là hộ nghèo về thu nhập. Chuẩn nghèo về thu nhập dùng để xác định quy mô nghèo về thu nhập của quốc gia, xác định đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ (gọi là chuẩn nghèo chính sách). Chuẩn mức sống trung bình về thu nhập: Là mức thu nhập mà ở mức đó người dân đã đạt được mức sống trung bình của xã hội, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. - Mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: 21 Luan van Các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin.
Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt gồm 10 chỉ số: trình độ giáo dục người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, loại hố xí/nhà tiêu, sử dụng dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Ngưỡng thiếu hụt đa chiều: Là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên. Tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 quyết định về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng giai đoạn 2016 - 2020 như sau: - Hộ nghèo: + Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng trở xuống Hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Khu vực thành thị: Là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng có từ đủ 900.000 đồng trở xuống.
Hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Hộ cận nghèo: 22 Luan van + Khu vực nông thôn: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. + Khu vực thành thị: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. - Hộ có mức sống trung bình: + Khu vực nông thôn: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.
+ Khu vực thành thị: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. Vai trò của giảm nghèo bền vững đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Thứ nhất, giảm nghèo bền vững là định hướng rất quan trọng của đất nước, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội: Giảm nghèo bền vững là một trong những biện pháp cơ bản để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do xuất phát điểm của nền kinh tế cùng với trình độ tổ chức, quản lý xã hội của đất nước khi bước vào thời kỳ quá độ, nên vấn đề giảm nghèo bền vững là mục tiêu lâu dài, đòi hỏi phải kiên trì, bền bỉ. Giảm nghèo bền vững vừa nâng cao chất lượng nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng đất nước, vừa góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, giảm bớt sự chênh lệch giữa các nhóm dân cư, vừa thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Sự phát triển kinh tế - xã hội sẽ trở nên kém hiệu quả, nếu như vấn đề giảm nghèo bền vững không được thực hiện tốt, vấn đề nghèo đói vẫn không được giải quyết. Thứ hai, giảm nghèo bền vững còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc của công cuộc xóa đói giảm nghèo: 23 Luan van Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ quan trọng và được triển khai thông qua việc ban hành các chính sách, các cuộc vận động hướng tới các đối tượng bị thua thiệt, áp dụng cho những vùng miền còn gặp khó khăn. Các chủ trương, chính sách ưu đãi, các nguồn lực, các nguồn tài trợ trong nước và quốc tế nhằm giúp nâng cao mức sống cho người nghèo, thực hiện an sinh xã hội, từ đó góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, với Nhà nước. Giảm nghèo bền vững tức là một bộ phận nhân dân, những người nghèo cứ nghèo mãi mà cuộc sống của họ phải được cải thiện và nâng cao; người nghèo không bị “hất” ra khỏi guồng máy sản xuất và đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, họ phải được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới và sự phát triển kinh tế - xã hội.
Vì thế, giảm nghèo bền vững thực sự là vấn đề thể hiện rất sâu sắc tính nhân văn của công cuộc xóa đói giảm nghèo và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thứ ba, thực hiện có hiệu quả giảm nghèo bền vững góp phần quan trọng bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa: Thực tiễn trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách và giải pháp đồng bộ, hiệu quả trong việc tập trung giải quyết vấn đề giảm nghèo, hạn chế việc phân hóa giàu nghèo ở trong nước, được quốc tế ủng hộ và đánh giá cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “nếu có độc lập rồi mà người dân vẫn cứ đói khổ, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì.