Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Dân chủ ở cơ sở và pháp luật về dân chủ ở cơ sở 1. Khái niệm, đặc điểm dân chủ ở cơ sở 1. Khái niệm dân chủ Khái niệm dân chủ, như nhiều người quan niệm, dường như là một sản phẩm của văn minh phương Tây, đúng hơn là văn minh Hy Lạp.
Chữ “democracy” (dân chủ) trong tiếng Anh và một số ngôn ngữ Tây phương khác hiện nay có gốc gác từ tiếng Hy Lạp cả hơn hai ngàn năm trăm năm trước, trong đó, “demos” là dân, nhân dân; và “kratos” quyền lực. “Demoskratia” – dân chủ - có nghĩa quyền lực thuộc về nhân dân. Xuất phát từ nguồn gốc trực tiếp dẫn tới sự ra đời khái niệm “Demoskratia” thì dân chủ trước hết là khái niệm thuộc về lĩnh vực chính trị, có nghĩa quyền lực chính trị - quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân. Dân chủ là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nguyên tắc nhân dân là chủ thể duy nhất của mọi quyền lực.
Hay theo như câu nói nổi tiếng của Tổng thống Abraham Lincoln, dân chủ là chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định” [16]. Chủ nghĩa Mác - Lênin kế thừa và phát triển những giá trị dân chủ đã đạt được trong lịch sử loài người, từ đó nêu ra những quan điểm về dân chủ như 8 sau: Thứ nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân có nghĩa là nhân dân có quyền quyết định những vấn đề có liên quan đến đời sống của mình và các quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội – đây là giá trị cao nhất của dân chủ; Thứ hai, dân chủ là một phạm trù chính trị nó gắn liền với một hình thái nhà nước và chế độ chính trị nhất định.
Trong lịch sử loài người đã có ba kiểu nhà nước dân chủ: Nhà nước dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong ba kiểu nhà nước này theo Lênin chỉ có nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực sự dân chủ vì nó dân chủ tuyệt đại quần chúng nhân dân, nó hướng tới xây dựng một xã hội không còn áp bức bóc lột, con người được giải phóng; Thứ ba dân chủ được hiểu với tư cách là một hệ giá trị văn hóa phản ánh trình độ phát triển của cá nhân và cộng đồng trong quá trình chống áp bức bóc lột, bất bình đẳng xã hội để tiến tới một giá trị nhân đạo tiến bộ, tự do, hạnh phúc. Tại Việt Nam, trong quan niệm của mình, Hồ Chí Minh xem xét dân chủ là một thiết chế chính trị, là phương thức tồn tại của nhân dân và là sản phẩm của tiến bộ xã hội. Hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến chuyên chế và gần trăm năm dưới chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nhân dân ta không có một chút quyền tự do dân chủ nào.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta được hưởng quyền dân chủ. Cách mạng Tháng Tám đã đem lại cho người dân của quý báu nhất là dân chủ. Bởi vì dân chủ là điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vì dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân nên theo Hồ Chí Minh, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm, phải mở rộng dân chủ thật sự với nhân dân, để mọi người có quyền làm, quyền nói.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Dân chủ vừa là phương pháp thể hiện mối quan hệ mới tốt đẹp trong xã hội vừa là nội dung của một cuộc 9 sống mới của nhân dân, cuộc sống mà người dân đang là chủ thật sự của đất nước, của xã hội. Nội dung đó không thể thiếu được trong đời sống người dân một nước đã có độc lập. Bởi vì nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập dùng chẳng có nghĩa lý gì.
Dân chủ là động lực để xây dựng một xã hội ấm no, hạnh phúc, tự do và bình đẳng. Địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Dân chủ có thể hiểu một cách ngắn gọn là nhân dân nắm chính quyền. Trong một nước dân chủ thì địa vị cao nhất là dân, vì mọi quyền hạn là của dân, mọi lợi ích là vì dân.
Dân chủ đối lập với “quan” chủ là một quan niệm thể hiện được bản chất của khái niệm dân chủ trong cấu tạo quyền lực của xã hội. Địa vị cao nhất là dân vì “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [18]. Khái niệm dân chủ ở cơ sở Để hiểu rõ hơn về khái niệm dân chủ ở cơ sở, trước tiên chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm cấp cơ sở trong hệ thống các cấp quản lý hành chính nhà nước ta hiện nay và trên cơ sở khái niệm dân chủ đã phân tích tích chúng ta sẽ hiểu hơn về khái niệm dân chủ ở cơ sở.
Trong bất kì một cơ quan, tổ chức, đơn vị và rộng hơn là quốc gia thì cấu trúc của hệ thống quản lý đều được tổ chức theo mô hình từ nhỏ đến lớn hoặc ngược lại. Trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước của Việt Nam hiện nay gồm có 4 cấp gồm: Trung ương - cấp tỉnh - cấp huyện và cấp xã. Bốn cấp quản lý này được tổ chức theo một hệ thống dọc. Từ trên xuống sẽ là trung ương - địa phương và cơ sở.
Nói đến chính quyền nhà nước ở cơ sở là nói đến chính quyền cấp xã. Trong nội dung luận văn này chúng ta sẽ tập trung vào cấp cơ sở là cấp xã. 10 Cơ sở nhìn chiều từ trên xuống, xét về quy mô và cấp độ tổ chức là cấp thấp nhất, cấp cuối cùng. Cũng có thể coi cấp cơ sở, cấp xã là cấp nhỏ nhất.
Xét theo quan hệ quyền lực, quyền hạn, chức trách của tổ chức nhà nước, cấp cơ sở xã là thấp nhất, nhỏ nhất. Chính quyền cấp xã cũng như hệ thống chính trị cấp xã đương nhiên chịu sự chỉ đạo, kiểm soát của cấp trên, từ huyện, tỉnh tới trung ương. Cái nhỏ nhất, thấp nhất đó còn được minh chứng bởi quy mô diện tích, địa giới hành chính và số lượng dân cư mà cơ sở quản lý. Cái nhỏ nhất không phải bao giờ cũng là cái ít quan trọng nhất.
Tính chất, tầm quan trọng của mỗi cấp độ quản lý không phải do định lượng mà do định tính, chức năng và nhiệm vụ của nó quy định. Cấp cơ sở cũng là những đầu mối công việc, những quan hệ nhiều chiều, ngang dọc, trên dưới đan xen trong một môi trường sinh động, một không gian xác định, những quyền hành và trách nhiệm cần thực thi, nơi bộc lộ trực tiếp, cụ thể của một chính quyền, một chế độ. Cấp xã với tư cách là cơ sở nhìn từ dưới lên thì nó là nền tảng của nhà nước và xã hội. Đây chính là nơi diễn ra hoạt động sống của nhân dân, trước hết là của nông dân, những người chuyên sản xuất lương thực, thực phẩm để nuôi sống toàn xã hội.
Sự ổn định của xã hội được bắt đầu từ cơ sở, đó là tiền đề của sự phát triển; thường thì sự không bình yên của thể chế đều bắt đầu từ chỗ lòng dân không yên, quy luật quản lý muôn đời là có dân thì có tất cả, mất dân thì mất tất cả… Thuận lòng dân được nhìn một cách rõ nhất, trực tiếp nhất là từ những người dân ở cơ sở, những người được xem là cội nguồn quốc gia Việt Nam, phải xuất phát từ đây thì mọi hoạt động quản lý của các cấp mới triển khai có hiệu quả. Cấp xã còn là nơi chứng thực đường lối, chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống và được triển khai cụ thể ra sao, bởi chính sách khoa học, đúng đắn đến đâu thì cũng chỉ là những khả năng khoa học, là chủ 11 quan của một phía từ những nghiên cứu, chưa đủ để khẳng định hiệu quả nếu không đưa vào thực tiễn cơ sở phong phú, phải được vật chất hoá ở đời sống người dân, phải được thể chế hoá chặt chẽ qua hoạt động của cơ sở. Cấp xã, cấp cơ sở là cấp hành động, cấp hoạt động, tổ chức thực hiện đường lối chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Cơ sở quan trọng là vậy và nó càng có ý nghĩa hơn khi là lực lượng quan trọng, đại diện cho quyền lực nhà nước nhằm phát huy được hiệu quả của hoạt động tự quản mà ở đây chỉ có thể nói đến là thôn (tổ dân phố, khu phố, làng, ấp, bản), từ đây mới thể hiện được chính quyền ở trong lòng dân nhằm phát huy những gì là nội lực nội sinh của người dân cơ sở, bởi thực chất chủ quyền thuộc về nhân dân cùng nhau giao các chức năng và quyền quản lý cho chính quyền, chứ chính quyền không tự thân có các chức năng và các quyền.
Vậy nên thế trận lòng dân là ở chính quyền cấp xã trong việc nuôi dưỡng và phát huy sức dân. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, “dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực” [12] của cách mạng Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng nêu rõ: dân chủ cơ sở thực chất là vấn đề “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Để thực hiện dân chủ cơ sở, mọi công dân phải được bảo đảm thực hiện các quyền: Quyền được bàn bạc, tham gia đóng góp ý kiến; Quyền được biết, được thông tin; Quyền kiểm tra, giám sát ở cơ sở.
Quan điểm chỉ đạo trên của Đảng đã được cụ thể hóa và đưa vào nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước và văn bản của các tổ chức chính trị xã hội.