Bộ Tư pháp - Trang thông tin về PBGD pháp luật TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT DÀNH CHO GIÁO VIÊN DẠY GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Chuyên đề 1. 4 PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN 4 I. QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN. QUYỀN THỪA KẾ CỦA CÔNG DÂN.
NGHĨA VỤ DÂN SỰ. 49 PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG. 49 CỦA CÔNG DÂN. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG.
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CỦA CÔNG DÂN. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ MỘT SỐ LOẠI LAO ĐỘNG ĐẶC BIỆT. 78 PHÁP LUẬT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ. MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ KINH TẾ.
MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ. 109 PHÁP LUẬT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, XÃ HỘI. PHÁP LUẬT VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA. PHÁP LUẬT VỀ PHÁT TRIỂN CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI.
TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG DÂN TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, XÃ HỘI. 139 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC, AN NINH QUỐC GIA. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ NHIỆM VỤ CỦA QUỐC PHÒNG, AN NINH. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG.
NỘI DUNG CƠ BẢN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ. 172 PHÁP LUẬT VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG.
MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG. MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ KHOÁNG SẢN. MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC. TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG DÂN TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG.
202 MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ TRẬT TỰ,. 202 AN TOÀN XÃ HỘI. PHÒNG, CHỐNG MA TÚY. PHÒNG, CHỐNG MẠI DÂM.
THỰC HIỆN AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ. 243 PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH. MỘT SỐ KHÁI NIỆM. XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH.
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH. QUY ĐỊNH VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN. 288 HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT DÀNH CHO GIÁO VIÊN DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN. 288 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (TẬP 2).
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT NỘI DUNG MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT DÀNH CHO GIÁO VIÊN DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (TẬP 2). 303 3 Chuyên đề 1 PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN I. QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN Tài sản và quyền sở hữu được xem là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật dân sự, là tiền đề của các quan hệ pháp luật dân sự về tài sản.
Chính vì vậy, Bộ luật dân sự của các quốc gia trên thế giới đều coi đây là chế định cơ bản cần tập trung quy định, làm cơ sở cho việc quy định các chế định khác như hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự. Ở Việt Nam, chế định tài sản và quyền sở hữu được quy định tại Phần thứ hai, Bộ luật dân sự năm 2005 (Sau đây gọi tắt là BLDS). Khái niệm tài sản và quyền sở hữu Tài sản với tính cách là khách thể của quyền sở hữu được qui định tại Điều 163 BLDS bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. - Vật là loại tài sản nhiều nhất, phổ biến và thông dụng nhất trong đời sống con người.
Vật phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Là một bộ phận của thế giới vật chất; con người kiểm soát được và đáp ứng lợi ích cho con người. - Tiền là giá trị của hàng hoá được xác định bằng lượng lao động kết tinh để sản xuất ra hàng hoá đó. Tiền là thước đo giá trị chung, là giá trị đại diện cho giá trị thực của hàng hoá và là phương tiện lưu thông trong giao lưu dân sự. Với vai trò quan trọng như vậy, tiền được coi là một tài sản quý.
Ngoài ra, tiền còn có một khía cạnh chính trị - pháp lý đặc biệt, thể hiện tư cách đại diện cho chủ quyền quốc gia. Nhà nước có quyền ấn định giá trị của tiền, phát hành tiền, quản lý việc lưu thông tiền. Người có tiền (chủ sở hữu) khi sử dụng tiền phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của Nhà nước. - Ngoài tiền có giá trị thanh toán, các loại giấy tờ trị giá được bằng tiền như cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, séc, chứng chỉ tiền gửi.
được sử dụng tương đối rộng rãi, góp phần làm cho giao lưu dân sự trở nên đa dạng, sôi động và phong phú hơn. Những giấy tờ này quy định những khoản tiền cụ thể mà chủ thể được hưởng khi xuất trình trước một tổ chức có trách nhiệm (ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng ). - Quyền tài sản phải thoả mãn hai điều kiện là trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự. Đây là những quyền gắn liền với tài sản 4 mà khi thực hiện các quyền đó chủ sở hữu sẽ có một tài sản.
Ví dụ: Quyền đòi nợ, quyền sở hữu công nghiệp. Khái niệm quyền sở hữu được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Theo nghĩa khách quan đó là toàn bộ các quy định của Nhà nước về vấn đề sở hữu. Còn theo nghĩa chủ quan đó là toàn bộ những hành vi mà chủ sở hữu được pháp luật cho phép thực hiện trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản theo ý chí của mình. Ở góc độ chung nhất, quyền sở hữu được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng và các tài sản khác trong xã hội.
Các căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu 2. Căn cứ xác lập quyền sở hữu Căn cứ xác lập quyền sở hữu là những sự kiện xảy ra trong đời sống thực tế nhưng có ý nghĩa pháp lí do BLDS quy định mà thông qua đó làm phát sinh quyền sở hữu của một hoặc nhiều chủ thể đối với tài sản nhất định. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu được quy định Điều 170 và cụ thể tại Mục 1 Chương XIV BLDS. Theo đó, quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây: - Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp.
Công dân đã bằng sức lao động của mình tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc quá trình lao động để tạo ra các sản phẩm, các thành quả lao động thì họ hoàn toàn có quyền sở hữu đối với tài sản được tạo ra bằng chính lao động của họ. - Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thường thì việc chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa các bên. Việc thoả thuận này của các bên có mục đích là chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản một cách hợp pháp từ chủ thể này sang chủ thể khác thông qua các hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay… Đây là những cách thức thực hiện hành vi pháp lý phổ biến nhất làm phát sinh quyền sở hữu của chủ thể.
Người được chuyển giao tài sản thông qua các hợp đồng dân sự hợp pháp thì có quyền sở 5 hữu tài sản đó kể từ thời điểm nhận tài sản nếu giữa các bên không có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có qui định khác. - Thu hoa lợi, lợi tức. Hoa lợi là những vật mới thu được do sự phát triển hữu cơ của một vật mà có, như hoa quả của cây, sữa, trứng, con giống từ con mẹ. Lợi tức là món lợi bằng tiền hoặc hiện vật mà chủ sở hữu thu được do việc cho người khác sử dụng tài sản hoặc thực hiện quyền dân sự đối với tài sản.
Chủ sở hữu, người sử dụng hợp pháp tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo quy định pháp luật, kể từ tời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó. - Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến. Do có các sự kiện này mà tài sản của nhiều chủ sở hữu tạo thành vật mới. Vật mới có thể là chung hay riêng của từng sở hữu chủ được xác định theo các Điều 236, 237, 238 của BLDS.
- Người được thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ sở hữu tài sản được thừa kế do người chết để lại. Đây là hình thức chuyển giao quyền sở hữu từ người chết (người để lại di sản) với người được thừa kế (người nhận di sản) theo quy định của pháp luật về thừa kế. Việc xác lập quyền sở hữu trong trường hợp này được quy định cụ thể tại Phần thứ tư của BLDS (từ Điều 631 đến Điều 687). - Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên.
Việc xác lập quyền sở hữu trong trường hợp này được quy định tại các Điều 239, 240, 241, 242, 243, 244 của BLDS - Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản, trừ trường hợp tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước (Điều 247). - Các trường hợp khác do pháp luật quy định. Như vậy, những tài sản nào không được xác lập dựa trên một trong các căn cứ trên đây thì tài sản đó không được pháp luật thừa nhận quyền sở hữu của cá nhân và người chiếm hữu tài sản đó không được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện quyền với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản. Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu 6 Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu là những sự kiện xảy ra trong đời sống thực tế nhưng có ý nghĩa pháp lí do BLDS quy định mà thông qua đó làm chấm dứt quyền sở hữu của một hoặc nhiều chủ thể đối với tài sản nhất định.