Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH 1. Giải quyết tố cáo hành chính và pháp luật giải quyết tố cáo hành chính 1. Tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính Khoản 1, 2 và 3 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 định nghĩa tố cáo nói chung là việc công dân theo thủ tục do Luật Tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Và trên cơ sở đó nêu định nghĩa đối với tố cáo hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và tố cáo hành vi vi phạm về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
Về chủ thể: Chủ thể tố cáo là công dân, có tên tuổi, địa chỉ rõ ràng, người bị tố cáo cũng phải có tên tuổi, địa chỉ, nội dung tố cáo phải chỉ rõ hành vi bị tố cáo. Người tố cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình, trường hợp tố cáo sai sự thật thì tùy theo mức độ có thể bị xử lý về hành chính hoặc hình sự; việc tố cáo được thực hiện bằng đơn hoặc tố cáo trực tiếp. Công dân có quyền tố cáo khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật dù thuộc lĩnh vực dân sự hay hành chính. Việc phân loại, xử lý, giải quyết: tố cáo phải tuân theo trình tự, thủ tục do Luật Tố cáo, Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tố cáo và Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ Quy định quy trình giải quyết tố cáo.
9 Về thời hạn giải quyết: Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày; 90 ngày đối với vụ việc phức tạp kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo. Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày, đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày. Về hệ quả pháp lý: Tố cáo chỉ phát sinh quan hệ pháp lý khi công dân trực tiếp hoặc gửi đơn tố cáo đến cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm. Nếu công dân không tố cáo dù đã phát hiện ra hành vi vi phạm pháp luật thì cũng không phải chịu bất kỳ hình thức xử lý nào.
Riêng đối với tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự (khoản 3 Điều 31 Luật Tố cáo năm 2011). Phân biệt tố cáo hành chính với tố giác tội phạm: Theo khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, ở một khía cạnh nào đó có thể hiểu tố giác về tội phạm là tố cáo hành vi phạm tội, nếu hiểu theo cách này thì nội hàm tố cáo đã bao hàm cả tố giác. Tố cáo và tố giác có những điểm khác biệt nhất định, đó là: Tố cáo thì không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm còn tố giác chỉ bao gồm hành vi vi phạm pháp luật có thể cấu thành tội phạm đã được quy định trong Bộ luật Hình sự; Tố cáo là quyền của công dân, còn tố giác vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân; Quan hệ pháp luật về tố cáo chỉ phát sinh khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ pháp luật tố giác thì phát sinh ngay khi công dân biết về tội phạm; Công dân có quyền quyết định việc mình tố cáo hay không hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bắt buộc phải tố giác nếu đã biết rõ về một tội phạm đang chuẩn bị hoặc đã được thực hiện và có thể bị 10 truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: “Không tố giác tội phạm” theo quy định của Bộ luật Hình sự, nếu biết mà không tố giác.
Nắm được điểm khác nhau giữa tố cáo và tố giác để từ đó người tố cáo, người tố giác nắm được bản chất sự việc đi đến quyết định làm đơn loại gì. Cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo, tố giác có thể tiết kiệm được thời gian khi phân loại đơn, chuyển chính xác đến các cơ quan, cá nhân thẩm quyền để giải quyết, tránh giải quyết nhầm, xảy ra sai sót. Giải quyết tố cáo hành chính Hiến pháp năm 2013 và khoản 7 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 đã xác định tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn, trình tự, thủ tục theo quy định. Giải quyết tố cáo hành chính là việc kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước trên nguyên tắc phải bảo đảm kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật, bảo đảm an toàn cho người tố cáo nhằm từ đó có biện pháp giải quyết theo quy định pháp luật từ đó bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Pháp luật giải quyết tố cáo hành chính 1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật giải quyết tố cáo hành chính 1. Khái niệm pháp luật giải quyết tố cáo hành chính Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính là tổng hợp các quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh việc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật (không phải là tội phạm) của cơ quan, tổ chức, cá nhân và việc giải quyết tố cáo đó của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền, được bảo đảm bằng hình thức cưỡng chế của Nhà nước. Đặc điểm của pháp luật giải quyết tố cáo hành chính 11 Thứ nhất, về nội dung: pháp luật giải quyết tố cáo hành chính quy định quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo; xác định thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước; quy định thủ tục đối với việc tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính; quy định việc xử lý các hành vi vi phạm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện quyền tố cáo, giải quyết tố cáo; quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trong công tác giải quyết tố cáo.
Thứ hai, về vai trò: Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân cũng như lợi ích của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; là phương thức tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nội dung pháp luật giải quyết tố cáo hành chính 1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành chính Thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định tại Mục 1 Chương III Luật Tố cáo năm 2011 là vấn đề trọng tâm của Luật Tố cáo, quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo thể hiện quan điểm của Nhà nước khi xử lý vấn đề này; tạo cơ sở pháp lý cho toàn bộ quá trình giải quyết tố cáo. Thứ nhất, về nguyên tắc xác định thẩm quyền, Điều 12 Luật Tố cáo quy định giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ như sau: - Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ (hành vi vi phạm) của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết.
Riêng tố cáo hành vi vi phạm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết. 12 - Tố cáo hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan giải quyết. - Tố cáo hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Việc giải quyết cụ thể trong các trường hợp ở các cấp chính quyền được các điều luật của Luật Tố cáo quy định: - Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã có thẩm quyền giải quyết đối với tố cáo hành vi của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.
- Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp. - Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn trực thuộc cơ quan mình và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp. - Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp huyện, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp. - Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương được phân cấp quản lý cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị thuộc Tổng cục, Cục và cấp tương đương, cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.