Luận văn thạc sĩ thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở từ thực tiễn huyện duy xuyên tỉnh quảng nam

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

85
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở

Nội dung của chương này tập trung vào việc làm rõ khái niệm và nội dung của pháp luật về dân chủ cơ sở. Dân chủ được hiểu là một giá trị xã hội nhân văn, phản ánh khả năng giải phóng con người và nâng cao vị trí của con người trong xã hội. Dân chủ cơ sở là quyền và vị thế của người dân tại các đơn vị cơ sở, nơi diễn ra các quan hệ căn bản giữa các tầng lớp nhân dân. Pháp luật về dân chủ cơ sở được xem xét ở nhiều khía cạnh, bao gồm quyền dân sự của người dân và các quy định điều chỉnh việc thực hiện dân chủ tại cấp xã, phường, thị trấn. Nội dung pháp luật này cụ thể hóa các quyền và giá trị của dân chủ đã được quy định trong Hiến pháp, bao gồm quyền tự do bầu cử, quyền tham gia quản lý Nhà nước, và quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy Nhà nước.

1.1. Khái niệm và nội dung pháp luật về dân chủ cơ sở

Khái niệm về dân chủ đã có từ lâu trong lịch sử xã hội, thể hiện khát vọng tự nhiên của con người về quyền làm chủ cuộc sống. Dân chủ cơ sở là vị thế và quyền của người dân ở cấp cơ sở, nơi mà các quan hệ xã hội diễn ra. Pháp luật về dân chủ cơ sở là hệ thống các quy tắc do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ giữa Nhà nước và công dân, bảo đảm quyền làm chủ của công dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Nội dung pháp luật này được thể chế hóa qua các văn bản pháp luật cụ thể, nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện dân chủ tại cơ sở.

II. Thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở tại huyện Duy Xuyên

Chương này phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thực trạng cho thấy rằng việc thực hiện dân chủ ở cơ sở còn nhiều hạn chế. Mặc dù có nhiều quy định pháp luật, nhưng việc áp dụng và thực hiện còn thiếu nghiêm túc. Trình độ dân trí chưa đồng đều, ý thức và năng lực thực hành dân chủ của người dân còn thấp. Một số đại biểu dân cử không còn được tín nhiệm nhưng vẫn giữ chức vụ do thiếu cơ chế bãi nhiệm rõ ràng. Việc trưng cầu ý dân cũng gặp nhiều khó khăn, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện quy trình và cơ chế thực hiện dân chủ tại cơ sở.

2.1. Khái quát chung về huyện Duy Xuyên

Huyện Duy Xuyên là một trong những địa phương có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền dân chủ tại đây vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Các chính sách và quy định về dân chủ cơ sở chưa được thực hiện đồng bộ, dẫn đến sự thiếu tin tưởng của người dân vào các cơ quan nhà nước. Cần có những biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ tại địa phương này.

III. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở

Chương này đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở tại huyện Duy Xuyên. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện dân chủ. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả để người dân có thể tham gia vào quá trình quản lý nhà nước. Việc cải cách các quy trình bầu cử và bãi nhiệm cũng cần được thực hiện để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc thực hiện quyền dân chủ.

3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội. Việc xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức về dân chủ và pháp luật cũng là một giải pháp quan trọng. Cần tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của họ trong việc thực hiện quyền dân chủ.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở từ thực tiễn huyện duy xuyên tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Khái niệm và nội dung pháp luật về dân chủ cơ sở 1. Khái niệm pháp luật về dân chủ cơ sở - Dân chủ. Dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội, nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước.

Nên quan niệm về dân chủ đã có từ rất lâu trong lịch sử xã hội. Dân chủ với tính cách là một chế độ Nhà nước là một phạm trù lịch sử, biểu hiện khát vọng tự nhiên của loài người. Dân chủ là một quá trình biểu hiện mong muốn của con người được làm chủ cuộc sống mình: làm chủ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Dân chủ được hiểu là một giá trị xã hội nhân văn, phản ánh khả năng giải phóng con người, nâng cao vị trí của con người trong lịch sử, hình thành và phát triển ở con người ý thức và năng lực làm chủ xã hội.

Dân chủ còn được xem xét với ý nghĩa là điều kiện để hình thành và phát triển một nhân cách toàn diện của các chủ thể chính trị. Đó là sự hình thành thái độ, tinh thần trách nhiệm, tính tích cực chính trị, tính chủ động, nhu cầu và sự tự giác tham gia vào các quá trình chính trị thực tiễn. Ở khía cạnh nghiên cứu của luận văn, xem xét dân chủ với tư cách là một hình thức tổ chức nhà nước, là khái niệm dùng để chỉ tính chất của mối quan hệ giữa cộng đồng dân chúng với nhà nước. Trong đó, cộng đồng dân chúng là chủ thể gốc của quyền lực và có quyền năng áp đặt ý chí lên nhà nước.

Dân chủ là “hình thức tổ chức thiết chế chính trị xã hội dựa trên việc 8 thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế nhất định…”[37; tr. Nói cách khác, dân chủ là một hình thức thiết chế chính trị của xã hội thể hiện quyền lực của quần chúng nhân dân thông qua một hệ thống bầu cử tự do (dân chủ luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ là dân là chủ (vị thế của nhân dân) và dân làm chủ (khả năng của nhân dân) luôn đi liền với nhau, thể hiện vị trí, vai trò và quyền của nhân dân đối với nhà nước.

- Dân chủ cơ sở. Xuất phát từ sự bình đẳng của mọi người với tư cách là những con người, rút ra cái quyền có một giá trị ngang nhau về chính trị và xã hội cho tất cả mọi người, hay ít ra là cho công dân trong một nước, hay cho mọi thành viên trong xã hội (Ph. Và bất kỳ một thành viên xã hội nào thì cũng đều gắn liền với việc sinh sống, lao động và học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống xã hội. Với hệ thống chính trị ở Việt Nam, dân cư ở cấp xã, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là các đơn vị cơ sở - nơi diễn ra các quan hệ căn bản trên nhiều lĩnh vực đời sống giữa các tầng lớp nhân dân.

Theo đó, dân chủ cơ sở là vị thế và quyền của người dân ở cơ sở mà chủ thể chủ yếu là những tầng lớp người lao động sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần để bảo đảm cho xã hội tồn tại, phát triển. Việc “thực hiện dân chủ cơ sở được thông qua bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, cụ thể là dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham gia”[36; tr. - Pháp luật về dân chủ cơ sở. Pháp luật về dân chủ cơ sở là lĩnh vực pháp luật về quyền dân sự của người dân.

Pháp luật về dân chủ cơ sở được xem xét ở nhiều khía cạnh. 9 Pháp luật về dân chủ cơ sở theo nghĩa rộng, bao gồm các quy định điều chỉnh: (1) Vấn đề thực hiện dân chủ của người dân ở cơ sở - nhất là cấp xã, phường, thị trấn; (2) Vấn đề dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước, trong các đơn vị sự nghiệp công lập; trong các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động… Pháp luật về dân chủ cơ sở theo nghĩa hẹp, bao gồm các quy định về những nội dung mà chính quyền xã (gồm HĐND và UBND), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức, cá nhân, cán bộ, công chức, có trách nhiệm kịp thời công khai để nhân dân biết, những việc nhân dân được bàn và quyết định, những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; những nội dung liên quan đến trách nhiệm của người có thẩm quyền ở cơ sở. Pháp luật về dân chủ cơ sở được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và thực hiện nhằm bảo đảm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế và công dân để tạo điều kiện cho công dân đảm bảo thực hiện quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội. Nội dung pháp luật về dân chủ cơ sở Nội dung pháp luật về dân chủ cơ sở là sự cụ thể hóa về các quyền và giá trị của dân chủ đã được quy định trong Hiến pháp 1992.

Nội dung pháp luật về dân chủ cơ sở chính là các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội (Điều 50), mà ở đó có: quyền tự do bầu cử và ứng cử (Điều 2, Điều 7, Điều 54); quyền của nhân dân được tham gia vào quản lý Nhà nước (Điều 11, Điều 53); quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin (Điều 69); quyền của nhân dân được kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy và cán bộ công chức Nhà nước ( Điều 8); quyền khiếu nại (Điều 74); quyền bình đẳng nam nữ (Điều 63)… 10 Từ căn cứ cốt lõi ở các quy định của Hiến pháp năm 1992, nội dung pháp luật về dân chủ cơ sở được thể chế hóa ở các luật quan trọng và được điều chỉnh trực tiếp bằng các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở. Theo đó, Chính phủ triển khai hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành đối với từng loại hình cơ sở. Các văn bản hướng dẫn thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được ban hành từ năm 1992 đến nay khá đầy đủ và có hệ thống, như: Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”; Nghị định số 29/1998/NĐ-CP của chính phủ ngày 11/5/1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Chỉ thị số 22/1998/CT- TTg ngày 15/5/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Thông tư số 03/1998/TT- TCCP ngày 06/7/1998 về hướng dẫn áp dụng Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường và thị trấn… Để đáp ứng yêu cầu mới, Chính phủ đã có Nghị định số 79/2003/NĐ – CP ngày 07/7/2003 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (thay thế Nghị định số 29/1998/CP). Trên cơ sở này, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 12/2004/TT – BNV ngày 20/02/2004 hướng dẫn thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

Tiếp tục xác định nhiệm vụ phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển nước ta (theo chủ trương của Đại hội X của Đảng) và để đưa thực hiện dân chủ ở cơ sở vào thực tiễn cuộc sống với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, ngày 20/4/2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL- UBTVQH11 thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Để triển khai thuận lợi về nội dung của Pháp lệnh 34, Chính phủ đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Nghị quyết liên tịch 09/2008/NQLT - CP-UBTWMTTQVN ngày 17/4/2008 về hướng dẫn thi hành các điều 11, 14, 16, 22, 26 của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, 11 phường, thị trấn. Để đáp ứng của tình hình phát triển mới, các quyền và giá trị của dân chủ cơ sở tiếp tục được quy định rõ trong Hiến pháp năm 2013 (thông qua Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 14, Điều 25, Điều 26, Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 79, Điều 115,…). Chẳng hạn, Điều 28 của Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.

Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”[32] (tức là quyền tham gia của người dân thể hiện ở ba khía cạnh: quyền tham gia quản lý nhà nước; quyền tham gia quản lý xã hội; và quyền tham gia thảo luận, kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước). Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 và Luật trưng cầu ý dân năm 2015 cùng với hệ thống văn bản của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thông qua: Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ chính trị về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quyết định số 218- QĐ/TW ngày 12/12/2013 về việc ban hành quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc gồm các doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê, mướn, sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng; Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ; Nghị định số 149/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07-11-2018 Quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ Luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Luận Văn Thạc Sĩ: Thực Hiện Pháp Luật Về Dân Chủ Cơ Sở Tại Huyện Duy Xuyên, Quảng Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc thực thi các quy định pháp luật liên quan đến dân chủ cơ sở tại một huyện cụ thể. Nghiên cứu này không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật, từ đó góp phần vào việc xây dựng một nền dân chủ vững mạnh và minh bạch hơn trong cộng đồng. Độc giả sẽ nhận thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về quy trình và cách thức thực hiện dân chủ cơ sở, cũng như tầm quan trọng của sự tham gia của người dân trong quản lý nhà nước.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến dân chủ cơ sở và quản lý nhà nước, hãy tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại quận 12 thành phố hồ chí minh, nơi cung cấp cái nhìn về thực hiện pháp luật dân chủ tại một khu vực đô thị khác. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện nhà bè tp hcm cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý ngân sách và sự liên quan của nó đến dân chủ cơ sở. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ năng lực tham mưu của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện quảng điền tỉnh thừa thiên huế sẽ mang đến cái nhìn về vai trò của công chức trong việc thực hiện các chính sách dân chủ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau của dân chủ cơ sở và quản lý nhà nước.