Chương I: Một số vấn đề lý luận – pháp lý về quy trình xử lý kỷ luật đối với công chức thực hiện hành vi tham nhũng 1. Khái niệm, đặc điểm về quy trình xử lý kỷ luật đối với công chức thực hiện hành vi tham nhũng 1. Khái niệm quy trình xử lý kỷ luật đối với công chức thực hiện hành vi tham nhũng 1. Khái niệm công chức Khái niệm công chức là khái niệm thông thường được dùng để chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước và công việc chính của họ là thực hiện các hoạt động công vụ, phục vụ lợi ích người dân.
Khác với khái niệm “quan chức” trong bộ máy quan lại thời phong kiến, vốn cũng là những người giúp việc cho cơ quan nhà nước (nhà Vua). Tuy nhiên xét đến cùng, bộ máy quan chức này luôn có sự đối lập về quyền lợi đối với người dân trong thời kỳ phong kiến.4 Tùy vào đặc điểm của từng quốc gia như: chế độ chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá, quan niệm khác nhau sẽ dẫn đến việc định nghĩa về khái niệm công chức của mỗi nước cũng sẽ có sự khác biệt. Ở Pakistan, công chức được định nghĩa: “Công chức là người hoạt động công vụ ở Pakistan (All-Pakistan service) hay người hoạt động công vụ của Liên bang (civil service of the Federation), hay người giữ chức vụ dân sự liên quan đến các công việc của Liên bang, bao gồm bất kỳ chức vụ được kết nối với quốc phòng nhưng không bao gồm: Đại biểu của Liên bang từ bất kỳ tỉnh hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác; người được tuyển dụng theo hợp đồng, hoặc công việc được trả lương hoặc được trả lương từ khoản dự phòng; người là “công nhân” được định nghĩa trong Đạo luật Nhà máy 1934 (the Factories Act, 1934) hay Đạo luật Bồi thường cho người lao động 1923 (the Workmen's Compensation Act).”5 Hoạt động công vụ ở Pakistan (All-Pakistan service) được quy định là một hoạt động chung của Liên bang hay các tỉnh đã tồn tại ngay trước ngày Đạo luật Majlis-e- Shoora có hiệu lực hoặc là một hoạt động chung được quy định bởi Đạo luật Majlis-e- 4 Nguyễn Xuân Tùng, “Quan chức và công chức: Những góc nhìn đa diện”, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, https://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi. 5 Chapter 1, Clause b, Article 2, The civil servants Act, 1973, tr.org/dyn/natlex/docs/ELECTRONIC/99257/118391/F1180420505/PAK99257.
Như vậy, Pakistan định nghĩa công chức theo hướng vị trí việc làm của họ, ví dụ, công chức hành chính quân sự trong Quân đội Pakistan. Ở Nhật Bản, Hiến pháp Nhật Bản 1946 quy định: “Công chức là người phục vụ toàn thể nhân dân, không phải là người phục vụ riêng của một bộ phận nào khác.7 Hiến pháp điều chỉnh những vấn đề chung nhất của pháp luật Nhật Bản trong đó có vấn đề về công chức, nên việc quy định một cách chi tiết về khái niệm, quyền và nghĩa vụ của công chức là không cần thiết trong một bản Hiến pháp. Thay vào đó, Nhật Bản đã đưa ra hai văn bản quy phạm pháp luật riêng điều chỉnh về công chức, được chia thành hai nhóm là Công chức quốc gia và Công chức địa phương. Hai văn bản quy phạm pháp luật này đã quy định cụ thể về những vấn đề liên quan đến công chức, tránh việc hiểu công chức là một khái niệm rất rộng theo quy định tại Hiến pháp Nhật Bản.
Ngoài ra, pháp luật Nhật Bản cũng quy định những đối tượng được loại trừ không phải là công chức tại khoản 6 và khoản 7 Điều 3 Luật Công chức Quốc gia Nhật Bản. Theo đó, những người được Chính phủ bổ nhiệm làm việc ở các vị trí khác ngoài chức vụ chung hoặc chức vụ đặc biệt, có trả lương, trả công hoặc các mức lương khác cho vị trí của họ; và những người có hợp đồng công việc được lập trên cơ sở cá nhân giữa Chính phủ hoặc giữa các cơ quan của Chính phủ với người nước ngoài thì không phải là công chức. Luật Công chức Quốc gia Nhật Bản chia vị trí công chức thành hai nhóm là chức vụ chung và chức vụ đặc biệt. Chức vụ chung bao gồm tất cả các vị trí công chức quốc gia không bao gồm chức vụ đặc biệt.
Chức vụ đặc biệt được quy định theo phương thức liệt kê, một vài trong số đó là Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Đại diện Chính phủ, cán bộ nhân sự và thanh tra viên,.8 Luật Công chức Địa phương Nhật Bản cũng chia vị trí công chức thành hai nhóm là chức vụ chung và chức vụ đặc biệt. Chức vụ chung là tất cả các vị trí công chức địa phương không bao gồm chức vụ đặc biệt. Vị trí đặc biệt được quy định là các vị trí được bổ nhiệm theo yêu cầu bầu cử công khai hoặc bầu cử, nghị quyết, sự đồng ý của Hội đồng chính quyền địa phương; Thành viên chính thức của ủy ban lao động tỉnh; .9 Ở Trung Quốc, định nghĩa công chức được quy định tại Điều 2 Luật Công chức của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: “Công chức được đề cập trong Luật này là những người thực hiện công vụ theo quy định của pháp luật, được đưa vào biên chế 6 Part 12, Chapter 1, Article 240, The Constitution of the Islamic Republic of Pakistan, tr.pk/uploads/documents/1549886415_632.pdf] 7 15条2項日日日日日 (khoản 2 điều 15 Hiến pháp Nhật Bản 1946) 8 (Điều 2 Luật Công chức Quốc gia Nhật Bản), [https://elaws.jp/document?lawid=322AC0000000120] 9 (Điều 2 Luật Công chức Địa phương Nhật Bản), [https://elaws.jp/document?lawid=325AC0000000261] 10 hành chính nhà nước, trách nhiệm về tiền lương và phúc lợi do ngân sách nhà nước chi trả.”10 Qua việc nghiên cứu khái niệm công chức (Civil servants), nhóm tác giả nhận thấy khái niệm này hiện nay được sử dụng phổ biến ở hầu hết các quốc gia và có chung một số đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, công chức là người thực hiện công vụ mà không phải là người thực hiện các công việc khác như: dịch vụ công, hoạt động có tính chất nghề nghiệp, kinh doanh, xã hội,…. Thứ hai, công chức được nhà nước trả lương từ ngân sách nhà nước; Thứ ba, công chức phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, của người dân trong phạm vi cả nước.
Ngoài ra, tuỳ từng quốc gia mà có thêm các đặc điểm khác để nhận diện đối tượng công chức như: nơi làm việc (Pakistan), biên chế (Trung Quốc). Ở Việt Nam, theo khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019, công chức được định nghĩa như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”11 Như vậy, khi xem xét khái niệm về khái niệm công chức của từng quốc gia nêu trên, có thể thấy được sự khác biệt đối với Việt Nam. Pakistan định nghĩa công chức dựa trên vị trí việc làm. Định nghĩa công chức của Trung Quốc cũng dựa trên tính chất công việc và chế độ.
Nhật Bản định nghĩa công chức dựa trên tính chất công việc: phục vụ cộng đồng. So với các quốc gia khác, ở Việt Nam khái niệm về công chức được quy định chi tiết hơn, với nhiều đặc điểm nhận dạng hơn. Dù vậy, khái niệm công chức theo pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn có những đặc điểm tiệm cận với quy định về công chức trong pháp luật của các quốc gia khác như: trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.cn/guowuyuan/2018- 12/30/content_5353490.htm?fbclid=IwAR1tmL7K13l9koiXu9- VgXYMZmP0lCPzS2b0g0Qa1KNHRXNFSPkkw_dGRis] 11 Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019. 11 Bên cạnh những điểm giống nhau về khái niệm công chức giữa Việt Nam và các quốc gia nêu trên, ở Việt Nam khái niệm công chức còn một số đặc điểm khác biệt.
Cụ thể như sau: Thứ nhất, về điều kiện gắn liền với nhân thân là yếu tố quốc tịch. Để trở thành đối tượng công chức theo pháp luật Việt Nam thì điều kiện tiên quyết là cá nhân phải có quốc tịch Việt Nam và chỉ có duy nhất một quốc tịch. Đồng thời cá nhân này phải cư trú trên lãnh thổ Việt Nam ở dạng thường trú. Người hai hay nhiều quốc tịch hoặc người không quốc tịch không thể trở thành công chức theo pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, về nơi làm việc. Pháp luật Việt Nam định nghĩa công chức dựa trên yếu tố nơi làm việc. Yếu tố này có thể dùng để phân biệt với một số đối tượng khác như: viên chức (làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập) hoặc người lao động (làm việc trong tổ chức kinh tế là chủ yếu). Theo đó, nơi làm việc của công chức là: trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan”12.
Sự khác biệt này xuất phát từ hệ thống chính trị ở nước ta. Hệ thống chính trị của nước ta bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội13. Các thành tố trong hệ thống chính trị ở Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với nhau vì lịch sử hình thành gắn với các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc: Đảng thành lập các tổ chức chính trị - xã hội nên các tổ chức này gắn bó, mật thiết với Đảng và Nhà nước. Nhà nước là hình thức tổ chức quyền lực của Nhân dân do Đảng lập ra và các tổ chức chính trị - xã hội do Đảng sáng lập có nhiệm vụ chính trị là tổ chức, tập hợp, đoàn kết quần chúng, đại diện ý chí và nguyện vọng của quần chúng.
Do đó, hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thống mang tính thống nhất và tập trung quyền lực, xuất phát từ nguồn gốc quyền lực của nhân dân ủy quyền cho Đảng, Nhà nước để thực hiện mục đích chung. Công chức được tuyển chọn thông qua hình thức tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm sử dụng quyền lực của Nhà nước, thực hiện các hoạt động công vụ với mục tiêu phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân.