CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện dân chủ ở cơ sở 1. Một số khái niệm về thực hiện dân chủ ở cơ sở 1. Khái niệm dân chủ Từ thời Hy lạp cổ đại, khái niệm dân chủ đã xuất hiện với tên gọi “Demokratia”, trong đó “Demos” là Nhân dân và “kratia” là chính quyền hay quyền lực.
Như vậy, dân chủ giai đoạn này có thể hiểu là quyền lực thuộc về Nhân dân hay Nhân dân là chủ thể của quyền lực [24, tr8]. Đến Mác Lênin quan niệm rằng, dân chủ là sản phẩm phản ánh những tính chất của các mối quan hệ xã hội, trình độ và yêu cầu phát triển của xã hội; trong đó mối quan hệ về kinh tế, cũng như trình độ và yêu cầu phát triển trong lĩnh vực kinh tế được xem là quan trọng nhất. Hay nói cách khác, đó là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội căn cứ vào việc khẳng định toàn bộ quyền lực thuộc về Nhân dân, do Nhân dân thực hiện hoặc thông qua người đại diện do Nhân dân bầu ra, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do và quyền con người. Khái niệm dân chủ ở Việt Nam được đánh dấu qua bản Tuyên ngôn độc lập “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa ban cho họ quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” [1, tr1] khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời năm 1945.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về dân chủ theo cách rất dễ hiểu: Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Người còn khẳng định rằng: “Nước ta là nước dân chủ, nên dân là chủ, địa vị cao nhất là dân” [2, t. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng độc lập dân tộc gắn liền với tự do dân chủ. Trong đó, dân chủ là bước phát triển cao, trở thành mục tiêu, động lực tiến lên chủ nghĩa xã hội và khi đó, dân làm chủ đất nước, là chủ của đất nước và nắm giữ quyền lực cao nhất của Nhà nước.
Những quan điểm của Người về dân chủ qua từng giai đoạn ngày càng cụ thể hơn và càng được nhấn mạnh hơn ở các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến bản Hiến pháp năm 1959. Trong bản Hiến pháp năm 1959, Người nhấn mạnh “Tất cả quyền lực trong nước 7 Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về Nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân” [3, tr. Tiếp nối quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bản Hiến pháp năm 1980, năm 1992, năm 2013 quy định và đề cập một cách rõ ràng, cụ thể hơn về quyền dân chủ của Nhân dân.
Và ngay từ khi thành lập, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu: “Đảng không có lợi ích nào khác ngoài đem lại lợi ích cho Nhân dân. Dân chủ là động lực và mục tiêu phấn đấu của Đảng” [2, t.587]; Đảng ta khẳng định: “Dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo vệ, bảo đảm., quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm”. Như vậy có thể hiểu, để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì dân chủ vừa là động lực, vừa là mục tiêu, là phương thức và nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà nước và xã hội. Dân chủ chính là việc mọi người được tôn trọng và bình đẳng khi tham gia vào những vấn đề liên quan đến đất nước, xã hội và cộng đồng.
Khái niệm dân chủ ở cơ sở Theo từ điển Tiếng Việt, cơ sở là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động như sản xuất, công tác… của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên. Và dân chủ là do dân làm chủ, do dân bầu đại biểu lên cầm chính quyền. Ở nước ta các đơn vị hành chính được tổ chức dựa trên 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện, xã (cơ sở). Như vậy, cấp cơ sở chính là xã, phường, thị trấn (hay được gọi tắt là cấp xã); là cấp cuối cùng, là nơi trực tiếp thực hiện và kiểm nghiệm các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực.
Do đó, các quy định về dân chủ muốn thành hiện thực, trước hết phải được thực thi tại cơ sở. Khi từng Nhân dân có quyền được biết, quyền được bàn, quyền được kiểm tra, giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở và quyền được thụ hưởng mọi thành quả từ hoạt động đó thì dân chủ mới trở thành hiện thực. 8 Tiếp nối quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn” [2, t.325], cùng với tiến trình đổi mới, yêu cầu thực tiễn của cách mạng nước ta và thực trạng vi phạm dân chủ ở tỉnh Thái Bình năm 1996 gây bức xúc trong Nhân dân, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân, làm mất an ninh và trật tự xã hội ở một số địa phương nên Đảng và Nhà nước ta càng coi trọng vai trò của dân chủ ở cơ sở. Chính vì vậy, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 30/CT- TW, ngày 18/02/1998 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở để tạo hành lang pháp lý cho mọi người, mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị thống nhất trong triển khai và tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở, đồng thời phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ở cơ sở.
Như vậy, dân chủ ở cơ sở là người dân, cán bộ, công chức được thông tin, biết quy định và hình thức công khai; quy chế và các hình thức để Nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn bạc và tham gia ý kiến; kết quả tiếp thu ý kiến đóng góp trước khi ra quyết định của chính quyền hoặc thủ trưởng cơ quan, đơn vị; chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện theo ý kiến của đa số Nhân dân, có sự giám sát, kiểm tra của Nhân dân; xác định được trách nhiệm của chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cơ sở định kỳ báo cáo công việc trước Nhân dân, phải tự phê bình và tổ chức để Nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sở góp ý kiến, đánh giá, phê bình; nghiêm túc tiếp thu những ý kiến đóng góp đó. Và quan điểm về dân chủ ở cơ sở ra đời là sự kiểm nghiệm, kết quả của việc đúc kết từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm lãnh đạo của Đảng ta trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở Pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức kinh tế và công dân nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, pháp luật về dân chủ có phạm vi và nội dung điều chỉnh rất rộng lớn.
9 Pháp luật về dân chủ ở cơ sở là một nội dung quan trọng của pháp luật về dân chủ, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức kinh tế và công dân đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn, trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế và các doanh nghiệp. Trong quan hệ với cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã, trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế và các doanh nghiệp là hoạt động có mục đích cho những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở đi vào cuộc sống nhằm mở rộng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, người lao động, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Như vậy, chúng ta có thể hiểu thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở là hoạt động có mục đích của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và các cá nhân làm cho những quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở đi vào cuộc sống, phát huy sức sáng tạo, quyền làm chủ của mỗi người dân, mỗi cá nhân trong tổ chức. Trong phạm vi của đề án này sẽ tập trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở ở Ủy ban nhân dân phường.
Đặc điểm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở 1. Đặc điểm dân chủ ở cơ sở Nội dung và bản chất dân chủ ở cơ sở là thực hiện quyền làm chủ của các tầng lớp Nhân dân ở cơ sở trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhằm bảo đảm cho mọi tổ chức và hoạt động ở cơ sở thực sự là của dân, do dân, vì dân. Dân chủ ở cơ sở là một cơ chế đặc biệt, bao gồm hai hình thức là dân chủ đại diện (dân chủ gián tiếp) và dân chủ trực tiếp. Mỗi hình thức dân chủ ở cơ sở khác nhau sẽ có những đặc điểm khác nhau.
Cụ thể: - Dân chủ trực tiếp là phương thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể quyền lực đối với những vấn đề cơ bản, trọng yếu. Dân chủ trực tiếp là Nhân dân không qua trung gian, quyết định trực tiếp những vấn đề họ quan tâm. Nhưng chất lượng của 10 dân chủ trực tiếp phụ thuộc nhiều vào trình độ kinh tế và dân trí, nếu Nhân dân còn thiếu ý thức pháp luật thì sẽ làm giảm hiệu quả thực hiện dân chủ trực tiếp. - Dân chủ đại diện là hình thức thể hiện ý chí không trực tiếp của chủ thể quyền lực mà thông qua các đại diện do chủ thể đó ủy quyền thực hiện.
Dân chủ đại diện có ưu điểm xác định rõ trách nhiệm cá nhân, tập trung được thông tin, quyền lực và quyết định nhanh. Tuy nhiên, dân chủ đại diện dễ dẫn đến độc đoán, quan liêu, xa rời Nhân dân. Do đó cần phải có cơ chế kiểm tra, giám sát tốt. Trong quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sở, hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện có thể bổ khuyết và hỗ trợ lẫn nhau.