Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG THỰC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.1 Pháp luật về chứng thực 1. Khái niệm về chứng thực và thực hiện pháp luật về chứng thực 1. Khái niệm chứng thực Hiểu theo nghĩa trong từ điển Tiếng Việt: “Chứng thực có nghĩa nhận cho để làm bằng là đúng sự thật”[21, tr. Trong xã hội có nhà nước, mỗi cá nhân, tổ chức đều có những loại giấy tờ, bằng cấp, chứng chỉ để thể hiện giá trị nhân thân.
Các cá nhân, tổ chức thường chỉ được cấp một, một vài bản gốc các loại giấy tờ nhất định, trong khi đó nhiều hoạt động ngoài cuộc sống cần họ phải xuất trình giấy tờ để chứng minh vấn đề nhân thân. Vì là nơi quản lý chung nên nhà nước sẽ đóng dấu xác nhận giấy tờ cá nhân của người dân, tổ chức. Nghị định 23 là văn bản hướng dẫn về chứng thực nhưng không định nghĩa cụ thể là gì. Từ những sự phân tích nói trên, chúng ta có thể hiểu: Chứng thực là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận một sự việc là có thật, là đúng đắn hoặc một văn bản, tài liệu là chính xác để phục vụ đời sống xã hội.
Triển khai thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và các văn bản thi hành, hoạt động chứng thực trên địa bàn Thành phố có nhiều chuyển biến tích cực: trình tự, thủ tục chứng thực đã được đơn giản hóa, công khai, giảm thời gian chờ đợi. Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm Phòng công chứng, Văn phòng công chứng tư cũng đã tổ chức các buổi họp quán triệt thực hiện nghiêm khi Nghị định số 23 có hiệu lực, đồng hành trong các buổi tập huấn do Thành phố, Cơ quan nhà nước tổ chức. Thực hiện pháp luật về chứng thực Chúng ta nên hiểu rằng quy định pháp luật bắt buộc mang tính chung là công cụ quan trọng nhất để nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý xã hội. Tất nhiên, để công 7 cụ này phát huy hiệu quả, nhà nước phải ban hành các quy định phù hợp với tình hình thực tế.
Việc đưa các quy định của pháp luật vào đời sống thực tế được gọi là thực hiện pháp luật. Quá trình này có hai mặt: một mặt, bản thân các mối quan hệ xã hội đòi hỏi pháp luật phải chi phối theo những định hướng nhất định mang tính khách quan. Tính chủ quan trong khái niệm này thường thể hiện ở phương diện chủ thể có thể quyết định tuân thủ thực hiện pháp luật hay không tùy thuộc vào sự tự do ý chí của chính mình. Nói đơn giản hơn, thực hiện pháp luật là chủ thể tự mong muốn thực hiện một điều gì đấy theo quy định của pháp luật.
Trong quản lý nhà nước, thực hiện pháp luật có ý nghĩa rất lớn, giúp nhà nước đạt được mục tiêu quản lý vĩ mô. Việc đưa các nguồn luật khác như tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật đi vào đời sống xã hội hiệu quả thông qua việc thực hiện pháp luật khiến các hành vi trở thành hành vi hợp pháp của chủ thể. Khi đó, mục đích điều chỉnh trong các quy phạm pháp luật được triển khai trong thực tế. Các đường lối, chính sách của nhà nước cũng đi vào hiện thực, phát huy được vai trò, tác dụng theo định hướng của nhà nước.
Từ đó, quan hệ xã hội được phát triển theo hướng tốt đẹp hơn, trật tự an toàn và ổn định hơn. Quá trình thực hiện pháp luật kết hợp với một số hoạt động khác như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Chính họ cũng mong muốn được thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, thông qua việc thực hiện pháp luật liên tục, những khiếm khuyết của pháp luật sẽ được bộc lộ giúp kịp thời đề xuất các giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật phù hợp.Tóm lại, thực hiện pháp luật là giai đoạn không thể thiếu của quá trình quản lý nhà nước.
Thực hiện pháp luật không chỉ có ý nghĩa đối với nhà nước mà còn có ý nghĩa với mọi cá nhân, tổ chức khác trong xã hội. Bởi thực hiện pháp luật luôn là hành vi hợp pháp của các chủ thể và thông qua đó quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều cá nhân, tổ chức trong xã hội được bảo đảm. Chứng thực là hoạt động của Nhà nước nhằm xác nhận tính pháp lý của văn 8 bản, sự kiện, tình trạng hành chính, hành vi giao dịch. để bảo đảm cho hoạt động này diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân.
Để đảm bảo hoạt động chứng thực diễn ra hiệu quả, Nhà nước ban hành hành lang pháp lý quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước thực hiện chứng thực, cũng như quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức liên quan đến hoạt động chứng thực. Các quy định pháp luật này được cụ thể hóa thông qua quá trình triển khai, thực hiện pháp luật. Thực hiện pháp luật về chứng thực tức là: Các cơ quan thẩm quyền xác nhận sự việc có thật, tài liệu, văn bản chính xác để phục vụ đời sống xã hội. Nói cách khác, quá trình chứng thực chính là hành vi biến các quy định trong luật thành hiện thực, biến chúng thành những hành động hợp pháp trong thực tế của các chủ thể pháp luật.
Khoa học pháp lý ngày nay được thực hiện pháp luật gồm 04 hình thức và đó cũng là 04 hình thức thực hiện pháp luật về chứng thực. Cụ thể: - Thực hiện pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, tuân thủ các quy định của luật bằng cách không thực hiện những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.Trong quá trình thực hiện pháp luật về chứng thực chủ thể, để tránh vi phạm luật các đối tượng thường kiềm chế thực hiện các hành vi sau: + Công chức chứng thực: Không được gây phiền phức cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu chứng thực. + Người đi chứng thực: Không có thái độ chống đối, thiếu hợp tác với công chức chứng thực. - Thi hành pháp luật: Thi hành pháp luật là khi mọi người thực hiện đúng và đủ trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật.
Trong chứng thực, thi hành pháp luật được thể hiện qua: Cán bộ chứng thực thực hiện đúng trách nhiệm của mình khi chứng thực cho cá nhân, tổ chức. Người đi chứng thực thực hiện đúng nghĩa vụ pháp lý khi được chứng thực, như thanh toán lệ phí. - Sử dụng pháp luật: Thực hiện các quyền do pháp luật cho phép. Cá nhân và tổ chức có quyền yêu cầu cơ quan chứng thực thực hiện theo nhu cầu và có quyền giám sát quá trình chứng thực.
9 - Áp dụng pháp luật: Hoạt động chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dựa vào quy định pháp luật, đưa ra quyết định, phán quyết áp dụng cụ thể cho cá nhân, tổ chức; chỉ được thực hiện bởi Cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Ví dụ: Công chức tiến hành chứng thực theo đúng thẩm quyền của họ cho từng cá nhân, tổ chức. Bản chất quá trình triển khai nội dung văn bản pháp luật nhằm cụ thể hóa, thực thi pháp luật trong thực tiễn. Như vậy, mỗi loại quy phạm pháp luật về chứng thực được thực hiện ở các hình thức khác nhau. Loại quy phạm có nội dung cấm đoán thì thực hiện ở hình thức tuân thủ pháp luật.
Loại quy phạm mang tính chất bắt buộc thì được thực hiện theo hình thức thi hành pháp luật. Loại quy phạm cho phép, quy định về quyền thì thực hiện theo hình thức sử dụng pháp luật. Như vậy, cơ quan nhà nước chính là chủ thể có thẩm quyền thực hiện hoạt động chứng thực trong lĩnh vực nhà nước. Chứng thực là một hoạt động chuyên môn của cơ quan hành chính nhà nước và là một trong những hành vi quản lý hành chính quan trọng nhất.
Đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về chứng thực 1. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về chứng thực Là một hình thức thực thi pháp luật trong một lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Do đó, Ngoài những đặc điểm chung của pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật về chứng thực có những đặc điểm riêng: - Hoạt động tự nguyện của các cá nhân, tổ chức: Hoạt động chứng thực chỉ phát sinh khi một cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu chứng thực một vấn đề hay giấy tờ liên quan. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn, nhu cầu chứng thực rất cao, đặc biệt là trong các giao dịch dân sự, để đảm bảo tính pháp lý và xác thực cho các giấy tờ quan trọng.
- Đối tượng và chủ thể của hoạt động chứng thực rất đa dạng: + Chủ thể: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực và cá nhân, tổ chức có nhu cầu chứng thực. Hoạt động chứng thực là một hình thức quản lý nhà nước, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm xác thực cho cá 10 nhân, tổ chức. Hoạt động này giúp đảm bảo trật tự và an toàn trong xã hội. + Đối tượng: Các cá nhân, tổ chức cần được chứng thực và các loại giấy tờ cần được chứng thực.
Với sự phát triển của xã hội, các loại giấy tờ cần được chứng thực ngày càng đa dạng, dẫn đến nhu cầu chứng thực rất cao. - Hoạt động chứng thực theo quy trình chặt chẽ: Việc chứng thực được thực hiện theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung, hình thức văn bản chứng thực theo quy định của pháp luật. Các cơ quan có thẩm quyền thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn và tập huấn nghiệp vụ chứng thực để đảm bảo công tác chứng thực được thực hiện đúng đắn và hiệu quả. Vai trò của thực hiện pháp luật về chứng thực Thứ nhất, chứng thực đúng quy định pháp luật giấy tờ giúp bảo vệ quyền lợi cá nhân, tổ chức khi sử dụng trong quan hệ pháp lý khác nhau.
Ví dụ: Bản sao bằng tốt nghiệp hợp lệ khẳng định trình độ, năng lực chuyên môn của cá nhân khi nộp hồ sơ xin việc. Bảo vệ quyền lợi của người khác trong xã hội. Ví dụ: Nhờ có bằng cấp, chứng chỉ hành nghề được chứng thực, nhà tuyển dụng yên tâm chọn đúng người có trình độ vào vị trí phù hợp. Thứ hai, mối quan hệ tương hỗ giữa thực hiện pháp luật về chứng thực và sự phát triển kinh tế - xã hội.