Chương 1. Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về văn hóa công vụ. Thực trạng thực hiện pháp luật về văn hóa công vụ tại Ủy ban nhân dân phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay. Quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về văn hóa công vụ tại Ủy ban nhân dân phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay.
9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VĂN HÓA CÔNG VỤ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của văn hóa công vụ 1. Khái niệm văn hóa, công vụ và văn hóa công cụ Khái niệm về văn hóa Văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật.
Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo Từ điển Tiếng Việt của Giáo sư Hoàng Phê văn hoá là: “Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [41, tr. Theo Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO): “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể của nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm văn hóa nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục, những tín ngưỡng… Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân và chính văn hóa làm cho chúng trở thành những nhân vật đặc biệt cơ bản, có lý tính, có phê phán và chân thật một cách đạo lý.
Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành để xem xét, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội trên bản thân” [47, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho 10 sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [30, tr.
Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [54, tr. Mặc dù “Văn hóa” được tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau, song các quan niệm về văn hóa nêu trên đều có những điểm chung cơ bản sau: (i) Văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần và vật chất không ngừng tăng lên của con người. (ii) Văn hóa là tất cả những gì trong hệ thống hữu cơ, các giá trị tinh thần, vật chất do con người sáng tạo ra làm cho tình người càng phát triển cao hơn. Nội dung bản chất của văn hóa là sự phát triển bản thân con người với tư cách là con người xã hội, sự phát triển trong những năng lực sáng tạo, những quan hệ nhu cầu, những đáp ứng thỏa mãn chỉ có ở người và chỉ có thể biểu hiện qua quá trình giao tiếp ứng xử giữa người với người và với thế giới tự nhiên.
Từ các định nghĩa đã nêu trên, để xác định một khái niệm văn hóa cho riêng mình nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dữ liệu khi nghiên cứu, có thể quan niệm: Văn hóa là sản phẩm của con người tạo ra trong quá trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường, xã hội, tính cách của từng tộc người và có đặc trưng riêng. Khái niệm về công vụ Ở các quốc gia khác nhau, khái niệm về công vụ có tính tương đối do phụ thuộc vào cách tiếp cận cũng như đặc điểm của mỗi nền công vụ. Tuy nhiên, các quan niệm về hoạt động công vụ đều chỉ ra rằng vai trò hoạt động công vụ chi phối và ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả, hiệu lực quản lý của nhà nước. 11 Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Ngô Thành Can “Công vụ có thể được xem là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý do đội ngũ công chức thực hiện, sử dụng ngân sách nhà nước để tiến hành các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong việc quản lý toàn diện các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của một quốc gia” [5, tr.
Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cán bộ, công chức tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội. Tuy nhiên trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, do đặc thù riêng, các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội là một hệ thống chính trị thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giữa các cơ quan, tổ chức này luôn có sự liên thông trong sử dụng nguồn nhân lực. Do đó, hoạt động công vụ không chỉ thuần tuý là hoạt động của cán bộ, công chức nhân danh quyền lực công, mà còn được hiểu là các hoạt động trong phạm vi rộng hơn.
Theo đó, hoạt động công vụ được hiểu là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập. Để khẳng định tính đặc thù này, Điều 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2019) quy định hoạt động công vụ “là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của luật này và các quy định khác có liên quan”[44]. Cán bộ, công chức khi tham gia hoạt động công vụ phải tuân thủ các nghĩa vụ và có trách nhiệm thực hiện đúng quyền hạn được giao. Dù được xem xét ở nhiều cấp độ khác nhau, nhưng điểm thống nhất của hoạt động công vụ là gắn với nhà nước, với quyền lực công.
Công vụ thể hiện ý chí và đáp ứng lợi ích của nhân dân và của nhà nước. Xuất phát từ chỗ công vụ là phương tiện thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, nó là định chế tổ chức - pháp lý trong hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước, và phải phục vụ ý chí của nhà nước và của nhân dân. Công chức khi thực thi công vụ chính là phục vụ nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân và của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 12 Khi tham gia hoạt động công vụ công chức phải tuân thủ các nghĩa vụ, có trách nhiệm thực hiện đúng quyền hạn được giao.
Để đạt được điều đó, bên cạnh năng lực, trình độ, người công chức còn phải hội đủ các phẩm chất đạo đức, tài năng và thường xuyên r n luyện để có phẩm chất đạo đức tốt, trách nhiệm cao trong thực thi công vụ. Từ những quan niệm trên, có thể khái quát: Công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý, phần lớn do cán bộ, công chức thực hiện nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, gắn với quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Khái niệm về văn hóa công vụ Giống như khái niệm “Văn hóa” hay khái niệm “Công vụ”, trên thế giới và Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu về “Văn hóa công vụ” khác nhau. Tác giả Kenneth Kernaghan, quan niệm văn hoá công vụ là các giá trị, chuẩn mực đạo đức, định hướng, tầm nhìn của nền công vụ.
Yếu tố giá trị là thành tố quan trọng của văn hoá công vụ được đề cập đến, đồng thời, tác giả quan niệm các chuẩn mực đạo đức cũng là yếu tố của văn hoá công vụ. Điều này có thể nói là hợp lý bởi lẽ, quan niệm giá trị và định hướng chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực hành vi luôn có sự tương thuộc với nhau [84]. Tác giả Prijono Tjiptoherijanto trong nghiên cứu Civil Service Reform in Indonesia: Culture and Institution Issues (Cải cách công vụ ở Indonesia: vấn đề văn hoá và thể chế) đã đưa ra quan niệm về văn hoá công vụ ở một góc độ tổng quát hơn. Văn hoá công vụ là tập hợp các giá trị, thái độ, chuẩn mực, niềm tin và các định hướng tinh thần có ý nghĩa định hình và quyết định hành vi của nền công vụ.
Quan niệm này có thể nói khá toàn diện, bao quát những thành tố căn bản nhất của văn hoá công vụ. Văn hoá công vụ là các giá trị, niềm tin và những định ước trong tổ chức được chia sẻ lẫn nhau giữa các thành viên của một nhóm hoặc tổ chức. Những giá trị, niềm tin và những định ước đó thấm sâu vào tổ chức, trở thành truyền thống của tổ chức và chi phối hành vi của các thành viên trong tổ chức đó. Văn hoá công vụ có ba cấp độ khác nhau: (1) cấp độ với sự xuất hiện của các dạng vật chất chuyển tải văn 13 hoá công vụ (như quy định về ăn mặc, các phát ngôn về triết lý của tổ chức, v.
Theo giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Văn hóa và phát triển: “Văn hóa công vụ là văn hóa tổ chức đặc thù, bao gồm hệ thống biểu tượng, chuẩn mực, giá trị, niềm tin hình thành trong nhận thức tạo nên tầm nhìn, tác động đến lối sống, hành vi và lề lối làm việc của người thực thi công vụ, tạo ra môi trường tổ chức, có khả năng lưu truyền và ảnh hưởng tới chất lượng công vụ” [26, tr.