Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 1. Khái quát về hộ tịch và pháp luật về hộ tịch 1. Khái niệm hộ tịch, pháp luật về hộ tịch 1.Khái niệm hộ tịch - Về khía cạnh ngôn ngữ, thuật ngữ “hộ tịch” đã xuất hiện từ rất sớm, đây là một từ ngoại lai được du nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt. Theo đó, “Hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính.
Xét về mặt từ loại thì đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tượng [3] Nếu tìm hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy, các từ điển tiếng Việt hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu về từng từ đơn này. Theo đó, từ “hộ” - khi sử dụng là danh từ có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong đó có một nghĩa trực tiếp là “dân sự” hoặc “nhà ở”, hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn ở với nhau”. Tương tự, từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Tuy nhiên, việc tổ hợp hai từ đơn này thành danh từ “hộ tịch” lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ, và được sử dụng với thuộc tính kết hợp hạn chế.
Chính do tính chất đặc biệt ấy nên khảo cứu qua các từ điển tiếng Việt thì thấy có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch” rất khác nhau. Có một số cách giải thích nghĩa khác nhau về hộ tịch như: Theo “Giản yếu Hán – Việt từ điển” của Đào Duy Anh: “Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người”; Theo “Hán – Việt từ điển” của Nguyễn Văn Khôn thì: “Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”; 8 Theo “Hán – Việt tân từ điển” của Hoàng Thúc Trâm thì: “Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”; Theo “Từ điển Hán – Việt từ nguyên” của Bửu Kế thì: “Hộ tịch: Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường”; Như vậy, nghĩa của từ "hộ tịch" xét về góc độ ngôn ngữ còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí, có cuốn từ điển giải nghĩa còn thể hiện sự nhầm lẫn cơ bản giữa hai khái niệm hộ tịch và hộ khẩu. Điều này phản ánh một thực tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm “hộ tịch” và “hộ khẩu” trong nhận thức xã hội là khá phổ biến. - Về khía cạnh pháp lý * Khái niệm “hộ tịch” trong hệ thống pháp luật hiện hành Khái niệm “hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt.
Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa một cách minh bạch, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trên thực tế, đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, do khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hoá thay thế không được lựa chọn, thay vào đó, các nhà xây dựng pháp luật đã dung hoà bằng giải pháp mà Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản. Theo đó, định nghĩa về “hộ tịch” được duy trì từ Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10-10-1998 về đăng ký hộ tịch cho đến Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch và tới Luật hộ tịch số 60/2014/QH13 9 ngày 20/11/2014 như sau: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.
Cách định nghĩa này, thực chất chỉ là một sự ước định. Về giá trị biểu đạt, với cách định nghĩa như vậy, sẽ chính xác hơn nếu coi đây là định nghĩa cho thuật ngữ “sự kiện hộ tịch” chứ không phải thuật ngữ “hộ tịch”. Bên cạnh đó, bản thân cách định nghĩa này cũng chưa xác định được rõ ràng nội hàm của khái niệm nên cùng với khái niệm “hộ tịch”, Luật hộ tịch số 60/2014/QH13 ngày 20/11/2014 còn nêu thêm khái niệm “đăng ký hộ tịch” bằng phương pháp mô tả như sau: “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư”; - Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: Khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử. - Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. - Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật. 10 Từ quan niệm về hộ tịch, có thể thấy, hộ tịch có những đặc điểm sau: Thứ nhất, hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết; việc đăng ký hộ tịch là việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính. Đồng thời, căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; huỷ việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó. Thứ hai, hộ tịch là những giá trị, những sự kiện về nhân thân không thể lượng hóa hoặc chuyển đổi cho người khác được. Hộ tịch cũng vì thế nên không phải là một dạng hàng hóa để trao đổi trên thị trường, việc thực hiện các sự kiện hộ tịch (như: kết hôn, ly hôn, nhận con nuôi, ly thân tư pháp…) phải do cá nhân đó thực hiện trừ một số trường hợp như: khai sinh có thể do bố, mẹ đi đăng ký khai sinh hoặc khai tử có thể do người thân của người chết đăng ký khai tử… 1. Pháp luật về hộ tịch 1.
Khái niệm pháp luật về hộ tịch Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thứa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. [7] Pháp luật về hộ tịch bao gồm toàn bộ hệ thống quy phạm điều chỉnh các vấn đề về hộ tịch theo đó, các quan hệ pháp luật về hộ tịch đc phân thành hai nhóm cơ bản: Nhóm quan hệ mang tính chất dân sự và nhóm quan hệ về quản 11 lý, các quan hệ pháp luật về hộ tịch cùng lúc được điều chỉnh bởi hai nhóm quy phạm pháp luật cơ bản đó là quy phạm pháp luật dân sự và quy phạm pháp luật hành chính. Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, pháp luật về hộ tịch chỉ bao gồm các quy phạm hành chính về quản lý hộ tịch. Như vậy, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hộ tịch chỉ bao gồm các quan hệ mang tính chấp hành và điều hành phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hộ tịch.
Như vậy, pháp luật về hộ tịch là hệ thống những quy tắc xử sự do cơ quan có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch nhằm đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân. Đặc điểm pháp luật về hộ tịch Pháp luật về hộ tịch quy định chủ thể quản lý nhà nước về hộ tịch là các Bộ, Ngành và Ủy ban nhân dân các cấp như: Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Ủy ban nhân dân các tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã. Pháp luật về hộ tịch quy định trách nhiệm của công chức làm công tác hộ tịch. Công chức làm công tác hộ tịch bao gồm: Công chức Tư pháp – Hộ tịch ở cấp xã; công chức làm công tác Hộ tịch ở Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; viên chức ngoại giao; lãnh sự làm công tác Hộ tịch tại Cơ quan đại diện Pháp luật về hộ tịch là cơ sở pháp lý trực tiếp và quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người về nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết đi.
Nhà nước đảm bảo pháp luật về hộ tịch bằng việc quy định rõ quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ đăng ký và quản lý các sự kiện hộ tịch phát sinh. 12 Pháp luật về hộ tịch điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quản lý về hộ tịch bao gồm: Quy định về hộ tịch, quyền, nghĩa vụ, nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch, cơ sở dữ liệu hộ tịch, tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch.