Chương I. Những quy định chung: Chương này gồm 15 điều - Chương II. Chính quyền địa phương ở nông thôn: Chương này gồm 03 mục, 21 điều. - Chương III.
Chính quyền địa phương ở đô thị: Chương này gồm 05 mục, 35 điều. - Chương IV. Chính quyền địa phương ở hải đảo: Chương này gồm 02 điều (Điều 72 và Điều 73). Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt: Chương này gồm 04 điều (từ Điều 74 đến Điều 77).
- Chương VI. Hoạt động của chính quyền địa phương: Chương này gồm 03 mục, 50 điều. - Chương VII. Thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính: Chương này gồm 02 mục, 12 điều.
- Chương VIII. Điều khoản thi hành: Chương này gồm 04 điều (từ Điều 140 đến Điều 143) quy định về sửa đổi, bổ sung Điều 4 của Luật quy 12 hoạch đô thị; hiệu lực thi hành; điều khoản chuyển tiếp; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, sau hơn 03 năm thực hiện, đã có rất nhiều đánh giá cho rằng, bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình triển khai thi hành, Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 đã bộc lộ những hạn chế, gây khó khăn, vướng mắc khi áp dụng. Do đó, một số quy định của Luật cần được tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Vì vậy, ngày 22/11/2019, Quốc hội thông qua Luật số 47/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Luật này có 33 khoản sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức CQĐP 2015. - Các nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính quyền địa phương gồm: + Những quy định chung (tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính; Hội đồng nhân dân; tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương; phân quyền, phân cấp cho chính quyền địa phương; ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương); + Chính quyền địa phương ở nông thôn (cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện, xã; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã; cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân xã); + Chính quyền địa phương ở đô thị (chính quyền địa phương ở quận, phường; cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; chính quyền địa phương ở phường; cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân phường, thị trấn; cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân phường, thị trấn); 13 + Chính quyền địa phương ở hải đảo; + Tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; + Hoạt động của chính quyền địa phương (bầu các chức danh của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; trách nhiệm tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân; thôi làm nhiệm vụ đại biểu, tạm đình chỉ và mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân; bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương); + Nguyên tắc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; + Một số nội dung sửa đổi từ ngữ. Thực hiện pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương 1.
Khái niệm thực hiện pháp luật tổ chức chính quyền địa phương Pháp luật và thực hiện pháp luật là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ gắn bó không thể tách rời. Pháp luật chỉ có ý nghĩa đích thực khi được thực hiện, các quy định của pháp luật trở thành những hành vi hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật [23, tr. Thực hiện pháp luật là “cầu nối” để pháp luật đi vào cuộc sống, là sự tiếp tục ý chí của nhà nước thể hiện trong pháp luật. Với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, chúng ta cần có một hệ thống pháp luật đầy đủ và hệ thống pháp luật đó phải được mọi thành viên trong xã hội tôn trọng, được chấp hành nghiêm chỉnh, triệt để.
Ở góc độ pháp lý, thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp, phù hợp với quy định pháp luật, có lợi cho nhà nước, cho xã hội, cho mọi cá nhân và tổ chức. Thực tế cho thấy, để thực hiện pháp luật hiệu quả thì một trong những yếu tố quan trọng là ý thức pháp luật của các chủ thể phải cao, ý thức pháp luật cần dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn của tất cả mọi người, do ảnh 14 hưởng tác động của những người xung quanh hoặc do kết quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Xét ở góc độ trên, các hành vi của con người, các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức phù hợp với quy định pháp luật đều được coi là biểu hiện của thực hiện pháp luật. Ở Việt Nam, các nhà khoa học pháp lý vẫn đang tranh luận về thuật ngữ “thực hiện pháp luật”, “áp dụng pháp luật”, “thi hành pháp luật”, “tuân thủ pháp luật” hay “sử dụng pháp luật”.
Có quan điểm cho rằng, nội hàm các khái niệm “thực hiện pháp luật” và “áp dụng pháp luật” là tương đồng nhau, trong khi đó, khái niệm “thi hành pháp luật” được hiểu theo nghĩa rất hẹp, chỉ là một trong các hình thức của “thực hiện pháp luật” [5, tr. Có quan điểm cho rằng, căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, có thể chia ra những hình thức thực hiện gồm “tuân thủ pháp luật”, “thi hành pháp luật”, “sử dụng pháp luật” và “áp dụng các quy phạm pháp luật” [[23, tr. Một số tác giả đã nghiên cứu đề cập đến cơ sở lý luận của vấn đề thực hiện pháp luật trong một số lĩnh vực như: thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, thực hiện pháp luật về an toàn giao thông,… Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu này, thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích, làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành động thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Tuy nhiên, cũng có ý kiến không đồng tình với quan điểm trên cho rằng việc phân chia các hình thức thực hiện pháp luật đó không theo một tiêu chí rõ ràng và thống nhất, cũng như không phản ánh vai trò của các chủ thể và không thể hiện được mối quan hệ với quá trình xây dựng pháp luật.
Hơn nữa, việc các chủ thể chủ động hay bị động thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình không phản ánh những nguyên tắc quan trọng của nhà nước pháp quyền XHCN liên quan đến 15 thi hành pháp luật như: công dân được làm những gì luật không cấm hay nhà nước chỉ làm những gì luật cho phép. Theo giáo trình Lý luận chung nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà nội, “thực hiện pháp luật được quan niệm là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [29, tr. Theo Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật của Viện nhà nước và pháp luật thuộc Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: “thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy phạm của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [39, tr. Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Khoa luật - Đại học quốc gia cho rằng: “thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người, phù hợp với quy định của pháp luật.
Nói cách khác, tất cả những hoạt động của con người, của tổ chức mà thực hiện phù hợp với những quy định của pháp luật được coi là sự thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật [9, tr. Nhìn chung, các quan niệm nêu trên tuy cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều có nội hàm tương đối đồng nhất, đó là: thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm làm cho các quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống. Trong lĩnh vực thực hiện pháp luật tổ chức CQĐP, nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của CQĐP nhằm đảm bảo trật tự kỷ cương, đảm bảo quyền lợi ích của cá nhân, lợi ích hợp pháp của địa phương, tổ chức được đảm bảo; đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Như vậy, thực hiện pháp luật trong tổ chức CQĐP là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về tổ chức 16 CQĐP, đi vào thực tiễn đời sống xã hội, chuyển từ sự nhận thức về các quyền lợi ích thiết thực của công dân thành hành vi pháp luật thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, nhằm đảm bảo sự công bằng của xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tuy nhiên, mục đích điều chỉnh của pháp luật về tổ chức CQĐP có thể đạt được nếu các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm minh các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của CQĐP. Từ những phân tích trên, thực hiện pháp luật về tổ chức CQĐP có thể hiểu như sau: Thực hiện pháp luật về tổ chức CQĐP là quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật tổ chức CQĐP nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật tổ chức CQĐP, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật, làm cho những quy định của pháp luật tổ chức CQĐP trở thành hiện thực trong cuộc sống. Các hình thức thực hiện pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương Thực hiện pháp luật về tổ chức CQĐP, được tiến hành dưới bốn hình thức: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Tuân thủ pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó yêu cầu các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm.
Những quy phạm pháp luật cấm đoán được thực hiện ở hình thức này.