Công lý và sự thể hiện của nó trong Hiến pháp Việt Nam

Khám phá luận án về công lý và sự thể hiện công lý trong hiến pháp Việt Nam, phân tích vai trò và ý nghĩa trong hệ thống pháp luật.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

188
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

1.1.1. Các tư tưởng, học thuyết pháp lý - lý thuyết gốc về công lý

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG LÝ VÀ SỰ THỂ HIỆN CỦA CÔNG LÝ TRONG HIẾN PHÁP

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỂ HIỆN CÔNG LÝ TRONG HIẾN PHÁP VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ CÔNG LÝ Ở VIỆT NAM

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VÀ BẢO VỆ CÔNG LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về công lý trong Hiến pháp Việt Nam

Công lý là một giá trị cốt lõi trong tổ chức xã hội, thể hiện qua các quy định trong Hiến pháp Việt Nam. Từ năm 1945, công lý đã được xác định là một nguyên tắc chính trị - pháp lý, phản ánh bản chất ưu việt của chế độ mới. Công lý không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà còn là một yêu cầu thực tiễn trong việc bảo vệ quyền con ngườiquyền công dân. Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận công lý như một giá trị nền tảng, khẳng định vai trò của nó trong việc xây dựng một xã hội công bằng và văn minh. Tuy nhiên, việc thực thi công lý trong thực tiễn vẫn còn nhiều hạn chế, cần được nghiên cứu và cải thiện.

1.1. Khái niệm và vai trò của công lý

Công lý được hiểu là sự công bằng trong xã hội, là nguyên tắc đảm bảo mọi cá nhân đều được đối xử công bằng và có quyền lợi hợp pháp. Công lý không chỉ là một khái niệm pháp lý mà còn là một giá trị đạo đức, thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền lợi công dân. Trong bối cảnh Hiến pháp Việt Nam, công lý được thể hiện qua các quy định về quyền con người, quyền công dân, và các nguyên tắc bảo vệ công lý. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một cơ chế thực thi công lý hiệu quả để đảm bảo mọi người đều có thể tiếp cận công lý một cách bình đẳng.

II. Các nguyên tắc pháp luật liên quan đến công lý

Các nguyên tắc pháp luật trong Hiến pháp Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện và bảo vệ công lý. Nguyên tắc công bằng xã hội là một trong những nguyên tắc cơ bản, đảm bảo rằng mọi cá nhân đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau trước pháp luật. Nguyên tắc pháp luật yêu cầu mọi hành động của cơ quan nhà nước phải tuân thủ pháp luật, từ đó bảo vệ quyền lợi của công dân. Việc thực hiện các nguyên tắc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi công dân mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng và văn minh.

2.1. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi công dân

Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi công dân trong Hiến pháp Việt Nam được thể hiện qua nhiều điều khoản, nhấn mạnh rằng mọi cá nhân đều có quyền được bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Điều này không chỉ là một yêu cầu pháp lý mà còn là một yêu cầu đạo đức trong việc xây dựng một xã hội công bằng. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của công dân, đảm bảo rằng mọi người đều có thể tiếp cận công lý một cách dễ dàng và hiệu quả.

III. Thực trạng và thách thức trong việc thực thi công lý

Mặc dù Hiến pháp Việt Nam đã ghi nhận công lý như một giá trị cốt lõi, nhưng thực tiễn cho thấy việc thực thi công lý vẫn còn nhiều thách thức. Nhiều người dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình, dẫn đến việc không thể bảo vệ được quyền lợi hợp pháp. Hơn nữa, sự thiếu minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng là một yếu tố cản trở việc thực thi công lý. Cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao nhận thức của người dân về công lý và quyền lợi của họ.

3.1. Những tồn tại trong thực thi công lý

Một trong những tồn tại lớn nhất trong việc thực thi công lý là sự thiếu đồng bộ trong các quy định pháp luật. Nhiều quy định còn mơ hồ, không rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng không nhất quán. Hơn nữa, sự thiếu hụt về nguồn lực và năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc công lý chưa được thực thi hiệu quả. Cần có những cải cách mạnh mẽ để khắc phục những tồn tại này, từ đó nâng cao hiệu quả thực thi công lý trong xã hội.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi công lý

Để nâng cao hiệu quả thực thi công lý trong Hiến pháp Việt Nam, cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ và toàn diện. Trước hết, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về công lý và quyền lợi của công dân. Thứ hai, cần hoàn thiện các quy định pháp luật, đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng trong việc áp dụng. Cuối cùng, cần nâng cao năng lực cho các cơ quan thực thi pháp luật, đảm bảo rằng họ có đủ nguồn lực và kỹ năng để thực hiện nhiệm vụ của mình.

4.1. Tăng cường giáo dục về công lý

Giáo dục về công lý là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi của mình. Cần có các chương trình giáo dục, tuyên truyền về công lý trong trường học, cộng đồng và qua các phương tiện truyền thông. Điều này không chỉ giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình mà còn tạo ra một môi trường xã hội tích cực, nơi mọi người đều có thể tham gia vào việc bảo vệ công lý.

25/01/2025
Luận án công lý và sự thể hiện công lý trong hiến pháp việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề CL trong tổng thể học thuyết về giai cấp thống trị và đấu tranh giai cấp. Những luận điểm nổi bật của ông về CL được phân tích, đánh giá và trình bày khá sâu sắc tại cuốn Marx and Justice-The Radical Critique of Liberalism (Marx và CL - Phê bình chủ nghĩa tự do) của Allen E.Buchanan, Nxb Metheuen (1984), bao gồm: Một là, lý luận hình thái kinh tế - xã hội khẳng định cũng như những quan hệ xã hội khác, CL là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp và tính lịch sử sâu sắc. CL chỉ xuất hiện, hình thành khi các yếu tố kinh tế-xã hội của xã hội loài người đã phát triển và đạt đến một trình độ nhất định. CL phụ thuộc chặt chẽ và do mỗi hình thái kinh tế - xã hội mà nó tồn tại chi phối, quyết định.

Ngược lại, các giá trị của CL cùng với các quan hệ sản xuất khác có tác động trở lại, ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng đến các phương thức tổ chức xã hội, từ đó thúc đẩy hoặc cản trở, kìm hãm sự phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Trong mỗi chế độ, nội hàm về CL sẽ có các nội dung, tính chất và phương thức vận hành khác nhau. Không tồn tại một thứ CL chung chung, trừu tượng, duy tâm, siêu hình. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng CL có bản chất “vô vụ lợi”.

12 Trong bài viết Cơ sở kinh tế-xã hội cho sự hình thành và phát triển của CL, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2015), với những luận cứ cụ thể, tác giả Nguyễn Xuân Tùng cũng đã tập trung phân tích và làm rõ tính khoa học của học thuyết này trong lý giải nguồn gốc và sự hình thành của CL. Hai là, từ luận điểm nêu trên, ông nhấn mạnh về một sự dự đoán chắc chắn của tội phạm có nguồn gốc từ hình thái kinh tế của xã hội tư sản, do đó, tội phạm không chỉ thuần túy là nô lệ của CL mà cần phải chú ý xóa bỏ nguồn gốc xã hội hay nguyên nhân giai cấp của tội phạm. Ông từ chối cách tiếp cận của cả học thuyết cải tạo và công lợi, cho dù hình phạt là cơ chế cải thiện hay răn đe thì cá nhân không thể bị trừng phạt bởi xã hội mới là nguồn gốc tội phạm. Ba là, nguyên tắc phân phối theo nhu cầu.

Ông đã liên hệ công bằng với trình độ phát triển của sản xuất xã hội và cho rằng trong giai đoạn đầu việc phân phối được thực hiện theo nguyên tắc đóng góp “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”. CL ở đây là nguyên tắc phân phối cho mỗi người dựa trên đóng góp lao động của họ, từ đó hình thành nguyên tắc phân phối phúc lợi dựa trên nỗ lực, cố gắng của người lao động. Khi chuyển sang giai đoạn của xã hội cộng sản, sản phẩm tiêu dùng dồi dào đến mức không cần dùng phân phối lợi ích vật chất để kích thích lao động nữa thì thực hiện nguyên tắc mới là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” [196, Tr. - Tư tưởng Hồ Chí Minh về CL Tại Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về CL có ảnh hưởng hết sức sâu rộng đến quá trình hình thành và phát triển lý luận về CL.

Tại bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về CL của Nguyễn Xuân Tùng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 11 (260) năm 2014, tác giả đã khái quát những nội dung, giá trị cơ bản của CL trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm: (1) Là hiện thân, giá trị của xã hội văn minh, đối lập với trạng thái xã hội dã man, bán khai; (2) Là lẽ phải, lẽ công bằng mà TA phải bảo vệ và mang lại cho mọi người dân; (3) Là quyền cơ bản, chân chính của mỗi quốc gia, dân tộc; (4) Là vũ khí tư tưởng, chính trị, pháp lý sắc bén góp phần làm sáng rạng tính chính nghĩa, chính đáng, hợp pháp, cũng 13 như bản chất của nhà nước thân dân, vì dân; (5) Là căn cứ pháp lý, là điểm tựa đạo lý quốc tế vững chắc để lên án các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến gian khổ của nhân dân Việt Nam, qua đó, bảo vệ hòa bình, tự do, công bằng và các quyền cơ bản của con người; (6) Là giá trị phổ quát, là lương tri, phẩm giá tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ hướng tới. Luận án tiến sỹ luật học Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của nó của Nguyễn Thị Phương Mai, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (2010) cũng nhấn mạnh ở khía cạnh này, có thể khẳng định tư tưởng khoan dung của Hồ Chí Minh được hình thành và dựa trên nền tảng của CL. Bài viết Quan niệm về CL ở Việt Nam từ năm 1945 đến cuộc CCTP năm 1950, Nguyễn Xuân Tùng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2014) cũng có những nhận định về ảnh hưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh về CL cũng như quá trình phát triển nhận thức về CL, đặc biệt là sự du nhập, tiếp biến của các học thuyết Mác - Lênin trong nhận thức về CL và xây dựng nền tư pháp nhân dân. Về khái niệm CL, tại bài viết Một số vấn đề lý luận cơ bản về CL, Tạp chí Công thương (2019), tác giả Trần Trí Dũng định nghĩa CL là lẽ đúng đắn mà mọi người đều thừa nhận, dùng làm cơ sở để phán xét, để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với các chủ thể tham gia trong những mối quan hệ nhất định.

Đây là một khái niệm tương đối phù hợp với bối cảnh CL trong tố tụng. Ở Việt Nam, các học thuyết và lý luận cơ bản về CL cũng được tiếp tục chú trọng chắt lọc, du nhập, nghiên cứu và truyền bá nhiều hơn, đặc biệt khi Việt Nam phát triển và hoàn thiện học thuyết NNPQ XHCN và thực hiện công cuộc CCTP từ năm 2002 đến nay. Các công trình nghiên cứu là sách tiêu biểu là Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh của Vũ Đình Hòe, Nxb Văn hóa Thông tin (2001); Quyền con người, GS. Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội (2011); Vũ Trọng Khánh - Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên, Nhiều tác giả, Nxb Tri thức (2015); CL và tiếp cận CL - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nguyễn Đăng Dung và Vũ Công Giao đồng chủ biên, Nxb Hồng Đức (2018).

Công trình nghiên cứu là tạp chí tiêu biểu là Về khái niệm “CL” trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Nguyễn Xuân Tùng, Tạp chí Tổ chức nhà nước (2013). 14 Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên đều tiếp tục tập trung phân tích và làm rõ nguồn gốc, quan niệm, bản chất, nội dung, chức năng, vị trí, vai trò của CL, từ đó góp phần phát triển và hoàn thiện các học thuyết về CL cũng như khả năng ứng dụng trong tổ chức và quản lý xã hội nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Nhóm các nghiên cứu về vai trò của công lý trong tổ chức và quản lý xã hội CL có một vai trò hết sức to lớn, ý nghĩa trong tổ chức, quản lý và vận hành xã hội một cách trật tự, ổn định và văn minh. Các công trình nghiên cứu chuyên ngành về ứng dụng này của CL khá đa dạng và phong phú.

Trước hết, phải kể đến một số nghiên cứu khẳng định tính đa dạng, năng động trong quan niệm CL. Cuốn sách Nhân loại học về pháp luật- Một lý thuyết so sánh (Anthropology of Law-A Comparative Theory) của Leopold Pospísil, Nxb Đại học Yale (1971) coi quan niệm CL như một phần của nền văn hóa mỗi dân tộc và sự đa dạng về văn hóa, tính cách sẽ mang lại những quan niệm về CL khác nhau. Tại cuốn sách Vượt trên CL (Beyond Justice) của Agnes Heller, Nxb Basil Blackwell Inc. (1987), phân tích bốn phương pháp tiếp cận cơ bản đưa đến bốn định nghĩa khác nhau về CL, từ đó đưa ra những ứng dụng khác nhau của CL.

Các công trình nghiên cứu điển hình như Khế ước xã hội (The Social Contract) của Jean-Jacques Rousseau, Nxb Thế giới (2014); CL (Justice) của Josef Pieper, Nxb Pantheon Books (1955); CL (Justice) do Alan Ryan chủ biên, Nxb Oxford University Press (1993); CL (Justice) của Harry Brighouse, Nxb Polity Press (2004); CL (Justice) do Eugene Kamenka và Alice Erh-Soon Tay chủ biên, Nxb Edward Arnold (1979);… đều tập trung lý giải vai trò không thể thiếu của CL nói chung và vai trò luân lý của CL nói riêng trong quá trình đưa xã hội tiến hóa từ trạng thái dã man, bán khai sang trạng thái kỷ cương, văn minh. Các công trình nghiên cứu bao gồm Chính trị luận (The Politics) của Aristotle, Nxb Thế giới (2013); Chính thể đại diện (Representative Government) của John Stuart Mill, Nxb Tri thức (2008); Bàn về chính quyền (On Government) của Marcus Tullius Cicero, Nxb Hồng Đức (2017); “CL” (Justice) do Alan Ryan 15 chủ biên, Nxb Oxford University Press (1993);… đều tập trung làm rõ tính chất chính trị của CL với tư cách là một nhân tố chính nghĩa của mỗi bộ máy chính quyền. Ngược lại, bất công hay cảm giác bất công cũng chính là một nhân tố quan trọng dẫn đến các cuộc cách mạng lật đổ chính quyền. Các công trình nghiên cứu cũng khẳng định mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ giữa CL và pháp luật.

Các quan điểm phổ biến coi CL là căn cứ để ban hành các chính sách pháp luật. Pháp luật công bằng phải thể hiện được CL trong lĩnh vực mà nó điều chỉnh. Các công trình tiêu biểu về mối tương quan giữa CL và pháp luật bao gồm: Lý thuyết về CL (The theory of justice) của Rudolf Stammler, Nxb Macmilan (1925); Lý luận chung về pháp luật và nhà nước (General Theory of Law and State) của Hans Kelsen, Nxb Harvard University Press (1946); CL dựa trên nền tảng luật pháp (Justice according to law) của Nathan Roscoe Pound, Nxb Yale University Press (1951); Sự hình thành của khoa học luật (Foundations of Jurisprudence) của Jerome Hall, Nxb The Bobbs-Merrill Company (1973); Luật tự nhiên và CL (Natural Law and Justice), Lloyd L. Weinbeb, Nxb Havard University Press (1987); Triết học về luật thực định (The Philosophy of Positive Law) của James Bernard Murphy, Nxb Yale University Press (2005); Triết học luật pháp (The Philosophy of Law) của Raymond Wacks Nxb Trẻ (2011); Luật pháp và Triết học: Dẫn nhập với những bài đọc (Law and Philosophy: An introduction with readings) của Thomas W.Simon, Nxb Mc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Công lý và sự thể hiện của nó trong Hiến pháp Việt Nam" khám phá vai trò của công lý trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là trong Hiến pháp. Tác giả phân tích cách thức mà công lý được thể hiện qua các quy định pháp lý, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của công dân và xây dựng một xã hội công bằng. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về lý thuyết công lý mà còn đưa ra những khuyến nghị về cách thức cải thiện hệ thống pháp luật hiện tại, giúp độc giả hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa công lý và pháp luật.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến pháp luật và công lý, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến quyền lợi của công dân trong lĩnh vực đất đai, hay Pháp luật về giá đất và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh, bài viết này cũng liên quan đến việc thực thi công lý trong các giao dịch đất đai. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Yếu tố thúc đẩy học tiếng Anh pháp luật tại Đại học Luật Hà Nội, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển của kiến thức pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hóa. Những bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn đa dạng và sâu sắc hơn về công lý và pháp luật tại Việt Nam.