Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Giám sát thi hành án dân sự" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Nhâm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đào Trí Úc, thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật (mã số 62 38 01 01), bảo vệ năm 2024.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí của thi hành án dân sự trong việc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước theo Điều 136 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 106 Hiến pháp năm 2013, cũng như các phán quyết của Trọng tài thương mại và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Thực hiện các chủ trương cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, công tác thi hành án dân sự đã chuyển giao từ Tòa án nhân dân sang Chính phủ quản lý từ tháng 7/1993. Mặc dù kết quả tổ chức thi hành án có chuyển biến qua các năm, tình trạng án tồn đọng vẫn ở mức cao: tính đến ngày 31/3/2015, cả nước tồn đọng khoảng 317.000 việc, tương ứng với số tiền gần 86.000 tỷ đồng. Riêng năm 2014 phát sinh 6.718 việc khiếu nại, 532 việc tố cáo (trong đó có 40 việc khiếu nại, tố cáo bức xúc kéo dài chưa giải quyết dứt điểm); 114 cán bộ, công chức vi phạm pháp luật bị xử lý kỷ luật hoặc khởi tố hình sự (98 trường hợp kỷ luật, 16 trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Hoạt động giám sát thi hành án dân sự chưa thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để bảo đảm pháp chế, còn bộc lộ nhiều bất cập cả về thể chế lẫn thực tiễn. Trước Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014, các Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989 và năm 2004 chưa hề quy định thiết chế giám sát thi hành án dân sự. Do đó, việc xây dựng cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng giám sát thi hành án dân sự là đòi hỏi cấp thiết.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định vai trò của giám sát trong hoạt động thi hành án dân sự; đánh giá thực trạng giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam; từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp bảo đảm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát thi hành án dân sự, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ khái niệm, vị trí, bản chất, vai trò của hoạt động thi hành án dân sự, từ đó xây dựng khung lý thuyết về giám sát thi hành án dân sự;
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam trên cơ sở khung lý thuyết đã thiết lập;
  3. Luận giải một số quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận về thi hành án dân sự và giám sát thi hành án dân sự; thực trạng hoạt động giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước và cải cách tư pháp; cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật liên quan đến giám sát thi hành án dân sự.

Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định:

  • Về không gian: Hoạt động giám sát thi hành án dân sự trên địa bàn tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước.
  • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu từ mốc thời gian công tác thi hành án dân sự được bàn giao từ hệ thống Tòa án nhân dân sang các cơ quan thuộc Chính phủ quản lý (tháng 7/1993) cho đến giai đoạn thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai nhóm công trình chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự:

  • Các đề tài cấp bộ và cấp nhà nước: "Về mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án" (1996) của Bộ Tư pháp; đề tài "Thừa phát lại" do Viện Nghiên cứu khoa học Pháp lý phối hợp với Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện; đề tài cấp nhà nước "Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới" (2003) do Bộ Tư pháp chủ trì; đề tài KX.06 thuộc Chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước (2001-2005); đề tài cấp bộ "Bình luận Pháp lệnh Thi hành án dân sự" (2004) của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp.
  • Các giáo trình, tài liệu chuyên khảo: Giáo trình "Kỹ năng thi hành án dân sự" (2004) của Học viện Tư pháp; sách "Quy trình, thủ tục Thi hành án dân sự" (2007) của Nhà xuất bản Tư pháp; Giáo trình "Luật Thi hành án dân sự" (2009) của Trường Đại học Luật Hà Nội; sách "Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp một số nước trên thế giới" (2011) của Bộ Tư pháp.
  • Các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ: Luận án của Nguyễn Thanh Thủy (2003) về hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự; luận án của Nguyễn Quang Thái (2003) về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong thi hành án dân sự; luận án của Đặng Đình Quyền (2012) về hiệu quả thi hành án dân sự; luận án của Nguyễn Tuấn An (2014) về hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự; luận văn của Nguyễn Công Long (2000) về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự; luận văn của Lê Xuân Hồng (2002) về xã hội hóa thi hành án dân sự; luận văn của Nguyễn Đức Nghĩa (2003) về khắc phục án tồn đọng; luận văn của Lê Anh Tuấn (2005) về đổi mới thủ tục thi hành án dân sự; nghiên cứu của Lê Văn Lương (2012) về phòng ngừa tội chống người thi hành công vụ trong cưỡng chế thi hành án.
  • Các bài báo và kỷ yếu khoa học: Bài viết của Nguyễn Công Bình (1999) về thi hành án dân sự ở Singapore; chuyên đề của Viện Khoa học pháp lý (2001, 2002); bài viết của Nguyễn Công Long (2005), Mai Kim Liên (2006), GS.TSKH Lê Cảm (2006); Kỷ yếu hội thảo "Các mô hình tổ chức thi hành án trên thế giới" (2006) của Nhà pháp luật Việt - Pháp; cùng các báo cáo tổng kết 10 năm (2004) và 20 năm (2013) của Bộ Tư pháp.

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về giám sát quyền lực nhà nước và giám sát thi hành án dân sự:

  • Các đề tài khoa học: Đề tài của GS.TS Trần Ngọc Đường về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực; đề tài KX 10-07 do GS. Đào Trí Úc làm chủ nhiệm về cơ chế pháp lý bảo đảm sự kiểm tra, giám sát của nhân dân; đề tài cấp bộ của PGS. Nguyễn Văn Mạnh (2000-2001) về tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội; đề tài của Đặng Văn Chiến (2005) về đổi mới quy trình giám sát của Quốc hội.
  • Các ấn phẩm chuyên khảo: Sách của GS.TS Nguyễn Đăng Dung (2000) về sự hạn chế quyền lực nhà nước; GS.TSKH Đào Trí Úc (2007) về mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN; TS. Trịnh Thị Xuyến (2008) về kiểm soát quyền lực nhà nước; TS. Phạm Ngọc Kỳ (1995) về quyền giám sát tối cao của Quốc hội; tập thể tác giả do PGS. Lê Minh Thông chủ biên (2001); sách do GS. Đào Trí Úc và PGS. Võ Khánh Vinh đồng chủ biên (2003) về giám sát và cơ chế giám sát thực hiện quyền lực nhà nước; các sách do TS. Nguyễn Sĩ Dũng chủ biên (2004, 2006); tài liệu của Văn phòng Quốc hội (2006).
  • Các luận án tiến sĩ: Luận án của Phạm Trọng Kỳ (1993), Phạm Văn Hùng (2004), Trương Thị Hồng Hà (2007) về chức năng giám sát của Quốc hội; luận án tiến sĩ tại Nga của E. Kovriakova về hoạt động giám sát của nghị viện.
  • Các bài viết học thuật: Bài viết của Phan Trung Lý và Phạm Văn Hùng (1998), Trần Thị Tuyết Mai (1999), Hoàng Duy và Hoàng Minh Hiếu (2000), Nguyên Thành (2001), Bùi Xuân Đức (2003), GS.TS Trần Ngọc Đường (2003), GS.TSKH Đào Trí Úc (2003), Trương Thị Hồng Hà (2003, 2006), Chu Văn Hưởng (2008), TS. Lương Minh Tuân (2009), Nguyễn Mạnh Bình (2009), TS. Vũ Anh Tuấn (2009), GS.TSKH Lê Văn Cảm và ThS. Dương Bá Thành (2010), cùng các bài viết bàn về hoạt động kiểm sát, giám sát tư pháp của Hoàng Công Huấn (2002), Nông Xuân Trường (2003), Trần Thanh Hương (2003).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu đã công bố chỉ tiếp cận hoạt động thi hành án dân sự ở khía cạnh thủ tục, tổ chức bộ máy hoặc cưỡng chế; các nghiên cứu về giám sát chủ yếu xem xét thẩm quyền giám sát chung của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đối với cơ quan hành pháp và tư pháp. Vấn đề giám sát thi hành án dân sự với tư cách một cơ chế kiểm soát quyền lực độc lập, chuyên sâu, phản ánh đúng tính chất hành chính - tư pháp của cơ quan thi hành án dân sự chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh và đánh giá thực trạng cơ chế giám sát chuyên biệt đối với thi hành án dân sự ở Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp luận: Luận án dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, cải cách bộ máy nhà nước và cải cách tư pháp.

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:

  • Luận án tiếp cận thi hành án dân sự theo quan điểm bản chất hành chính - tư pháp, xác định đây là giai đoạn tiếp nối hay "nối dài" của quá trình tố tụng, mang mục đích khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại, đồng thời tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự và lấy hoạt động tác nghiệp của chấp hành viên làm trung tâm.
  • Khung lý thuyết về giám sát thi hành án dân sự được xây dựng bao gồm: xác lập khái niệm giám sát thi hành án dân sự; phân định ranh giới giữa giám sát với kiểm sát thi hành án của Viện Kiểm sát nhân dân, thanh tra của cơ quan quản lý hành chính và kiểm tra nội bộ; xác định hệ thống chủ thể giám sát (nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, cơ quan kiểm sát, đương sự), đối tượng giám sát (cơ quan thi hành án, chấp hành viên, cơ quan hữu quan), nội dung giám sát (theo dõi, phát hiện vi phạm, yêu cầu tự điều chỉnh và kiến nghị xử lý), cùng hệ thống hình thức và phương thức giám sát.

Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án là công trình nghiên cứu định tính, sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể phân bổ theo các nội dung nghiên cứu:

  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận chung xuyên suốt.
  • Phương pháp lịch sử, phân tích, quy nạp: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 nhằm tổng hợp các tư liệu lập pháp, làm rõ các khuynh hướng quan điểm lý luận về thi hành án dân sự, khái quát hóa thành các phạm trù, đặc trưng và khung phân tích lý luận.
  • Phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, phỏng vấn, khảo sát: Áp dụng chủ yếu tại Chương 3 để thu thập, phân tích số liệu thực tiễn hoạt động thi hành án và giám sát thi hành án từ các báo cáo chính thức, nhận diện những ưu điểm, khuyết tật và nguyên nhân.
  • Phương pháp phân tích, chứng minh: Áp dụng chủ yếu tại Chương 4 để luận giải tính tất yếu và tính khả thi của các quan điểm, giải pháp bảo đảm giám sát thi hành án dân sự.

Nguồn dữ liệu và tư liệu:

  • Văn bản pháp quy: Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự, các văn bản quy định thẩm quyền giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và Viện Kiểm sát nhân dân.
  • Dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo công tác định kỳ của Chính phủ trình Quốc hội từ năm 1993 đến năm 2014; Báo cáo tổng kết 10 năm công tác thi hành án dân sự (1993-2003), Báo cáo sơ kết Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (năm 2012) và Báo cáo tổng kết 20 năm công tác thi hành án dân sự (năm 2013) của Bộ Tư pháp; báo cáo thống kê của Tổng cục Thi hành án dân sự.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 điểm lại các ấn phẩm, công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trong và ngoài nước. Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu thành hai mảng: các nghiên cứu về thi hành án dân sự (mô hình quản lý, thủ tục, cưỡng chế, xã hội hóa, xử lý án tồn đọng) và các nghiên cứu về giám sát quyền lực nhà nước, giám sát của cơ quan dân cử.

Chương này rút ra kết luận: Vấn đề thi hành án dân sự và giám sát thi hành án dân sự tại Việt Nam mới chỉ được tập trung nghiên cứu từ sau mốc chuyển giao thẩm quyền quản lý năm 1993. Đa phần các tài liệu chỉ tiếp cận giám sát ở góc độ thể chế chung của Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát mà chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập về giám sát thi hành án dân sự với tư cách một hoạt động giám sát quyền lực chuyên biệt. Từ đó, chương 1 xác lập ba nhóm vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu: làm sâu sắc hơn lý luận về thi hành án dân sự và giám sát thi hành án dân sự; đánh giá thực trạng cơ chế giám sát từ thể chế đến thực tiễn; và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực giám sát trong bối cảnh thực hiện Hiến pháp năm 2013.

Chương 2: Cơ sở lý luận về giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam

Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng. Trước hết, luận án phân tích năm quan điểm khác nhau trong giới khoa học pháp lý về bản chất của thi hành án dân sự:

  1. Thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng - hành chính;
  2. Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính tư pháp;
  3. Thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự (giai đoạn kết thúc của tố tụng dân sự);
  4. Thi hành án dân sự là loại tố tụng đặc biệt mang cả đặc trưng tố tụng dân sự và hành chính;
  5. Thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp.

Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: Thi hành án dân sự là việc các bên đương sự - cơ quan, tổ chức, cá nhân bằng hành vi tích cực của mình tự nguyện chấp hành hoặc dưới sự tác động của Cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện hành vi theo quy định của pháp luật để thi hành những phán quyết của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Về bản chất, đây là hoạt động mang tính chất hành chính - tư pháp và là một giai đoạn tiếp nối hay "nối dài" của quá trình tố tụng nhằm bảo đảm công lý được thực thi trên thực tế.

Luận án xác định ba đặc trưng cơ bản của thi hành án dân sự:

  • Là giai đoạn tiếp nối ("nối dài") của quá trình tố tụng;
  • Tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, đề cao tính tích cực của người được thi hành án và người phải thi hành án;
  • Lấy hoạt động tác nghiệp của chấp hành viên làm trung tâm.

Về vai trò, thi hành án dân sự giữ bốn vai trò chính: là phương tiện đưa bản án, quyết định vào thực tế đời sống; là thước đo kiểm nghiệm tính đúng đắn của các giai đoạn tố tụng trước đó (chứng minh qua việc trong 10 tháng năm 2014, cơ quan thi hành án dân sự cả nước đã phát hành 779 văn bản yêu cầu Tòa án giải thích, đính chính bản án tuyên không rõ, có sai sót, và 142 văn bản kiến nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm); bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan; góp phần giữ vững trật tự pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Khung lý thuyết về giám sát thi hành án dân sự tại Chương 2 làm rõ: khái niệm giám sát thi hành án dân sự; tiêu chí phân biệt giữa giám sát với kiểm sát, thanh tra và kiểm tra; các yếu tố chi phối; chủ thể giám sát; đối tượng giám sát; nội dung giám sát (theo dõi tính hợp pháp, yêu cầu khắc phục vi phạm, kiến nghị hoàn thiện thể chế); cùng các hình thức và phương thức giám sát.

Chương 3: Thực trạng giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam

Chương 3 phân tích thực trạng triển khai hoạt động giám sát thi hành án dân sự tại Việt Nam theo quy định pháp luật qua từng nhóm chủ thể:

  • Giám sát của nhân dân (công dân);
  • Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp;
  • Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội;
  • Giám sát của Viện Kiểm sát nhân dân thông qua công tác kiểm sát thi hành án dân sự;
  • Giám sát của người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Chương này sử dụng các dữ liệu thống kê phản ánh kết quả hoạt động thi hành án dân sự và công tác giám sát, kiểm sát qua các thời kỳ:

Năm Tỷ lệ thi hành xong về việc (%) Tỷ lệ thi hành xong về tiền (%)
2009 78,72 67,08
2010 86,35 80,10
2011 87,96 76,10
2012 88,58 76,94
2013 86,55 73,71
2014 88,47 76,72

Số liệu giám sát được luận án phân tích cụ thể tại Bảng 3.1: "Kết quả thực hiện giám sát của một số chủ thể từ năm 2010 đến năm 2014" (trang 123 của văn bản).

Đánh giá tổng quát của chương chỉ ra: Hoạt động giám sát đã từng bước đi vào nền nếp, giúp phát hiện và ngăn ngừa nhiều sai phạm trong phân loại án, áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án. Tuy nhiên, hiệu quả giám sát còn nhiều hạn chế: lượng án tồn đọng tính đến 31/3/2015 vẫn ở mức 317.000 việc với gần 86.000 tỷ đồng; số đơn thư khiếu nại, tố cáo năm 2014 rất lớn (6.718 việc khiếu nại, 532 việc tố cáo); số cán bộ vi phạm bị xử lý kỷ luật và xử lý hình sự cao (114 trường hợp năm 2014). Nguyên nhân của hạn chế gồm: quy định pháp luật về cơ chế giám sát còn thiếu đồng bộ, chưa có chế tài bắt buộc thực hiện các kiến nghị sau giám sát; thẩm quyền và nguồn lực giám sát của cơ quan dân cử và Mặt trận Tổ quốc còn hạn hẹp; kỹ năng nghiệp vụ của cán bộ còn bất cập; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong thi hành án chưa được ngăn chặn triệt để.

Chương 4: Bảo đảm giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới

Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát thi hành án dân sự.

Năm quan điểm định hướng gồm:

  1. Đặt trong tổng thể của công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân;
  2. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam;
  3. Không làm ảnh hưởng đến tính ổn định và phát triển bình thường của hoạt động thi hành án dân sự;
  4. Góp phần hạn chế tình trạng tiêu cực, sách nhiễu và vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự;
  5. Phát huy được tổng hợp sức mạnh của toàn xã hội.

Bốn nhóm giải pháp bảo đảm giám sát thi hành án dân sự:

  • Hoàn thiện thể chế về giám sát thi hành án dân sự: Pháp điển hóa các quy định về giám sát thi hành án dân sự, làm rõ trách nhiệm giải trình của cơ quan thi hành án, quy định giá trị pháp lý bắt buộc và chế tài xử lý đối với việc chậm trễ hoặc không thực hiện các kiến nghị giám sát;
  • Tăng cường hoạt động giám sát của các chủ thể giám sát thi hành án dân sự: Nâng cao chất lượng giám sát chuyên đề và tái giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; phát huy vai trò giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; tăng cường kiểm sát trực tiếp của Viện Kiểm sát nhân dân;
  • Nâng cao nhận thức của các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể và nhân dân đối với giám sát thi hành án dân sự: Phổ biến pháp luật về quyền giám sát, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và đương sự; tạo điều kiện công khai, minh bạch thông tin quá trình thi hành án;
  • Mở rộng đối tượng giám sát, nội dung giám sát, đổi mới hình thức, phương thức giám sát: Mở rộng giám sát đến các cơ quan hữu quan có trách nhiệm phối hợp (đăng ký tài sản, ngân hàng, chính quyền cơ sở); kết hợp linh hoạt giữa giám sát định kỳ qua báo cáo với giám sát đột xuất, khảo sát thực tế và đối thoại trực tiếp.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án có các đóng góp:

  • Nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề giám sát thi hành án dân sự dưới góc độ khoa học pháp lý và khoa học hành chính.
  • Làm sáng tỏ bản chất hành chính - tư pháp của thi hành án dân sự, chỉ rõ tính chất là hoạt động nối dài của quá trình tố tụng, tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự và lấy chấp hành viên làm trung tâm.
  • Xây dựng khung lý thuyết chuyên biệt về giám sát thi hành án dân sự, bao gồm định nghĩa khái niệm, xác định rõ hệ thống chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương thức giám sát, đồng thời phân biệt rành mạch giữa giám sát với kiểm sát, thanh tra và kiểm tra.

Về mặt thực tiễn, luận án có các đóng góp:

  • Đánh giá toàn diện thực trạng giám sát thi hành án dân sự theo pháp luật hiện hành qua việc phân tích thực tế hoạt động của năm nhóm chủ thể giám sát.
  • Nhận diện những bất cập, sai phạm và lượng hóa thực trạng thông qua các số liệu xác thực về kết quả thi hành án, lượng án tồn đọng, tình hình khiếu nại tố cáo và xử lý kỷ luật cán bộ trong giai đoạn 1993-2014.
  • Đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và bốn nhóm giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực của cơ chế giám sát thi hành án dân sự, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế:

  • Nguồn dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê chi tiết trong văn bản luận án chủ yếu phản ánh giai đoạn từ khi chuyển giao công tác thi hành án dân sự (năm 1993) đến mốc thời gian năm 2014 - đầu năm 2015 (thời điểm Luật Thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014 bắt đầu có hiệu lực và thời điểm báo cáo của Chính phủ năm 2014). Các biến động thực tiễn sau giai đoạn này chưa được cập nhật sâu trong phần nội dung thực trạng.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Đánh giá tác động thực thi của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Hiến pháp năm 2013 đối với cơ chế giám sát trong giai đoạn hiện nay;
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế giám sát hoạt động thi hành án dân sự trong điều kiện mở rộng mô hình xã hội hóa (chế định Thừa phát lại) và việc chuyển đổi số, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giám sát thi hành án dân sự.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật học (đặc biệt là bộ môn Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, Luật Tố tụng dân sự, Luật Hành chính). Phần khung lý thuyết ở Chương 2 và việc phân biệt giám sát với kiểm sát, thanh tra, kiểm tra là nội dung học thuật đáng tham khảo cho công tác giảng dạy và nghiên cứu lý luận.
  • Các cơ quan lập pháp và cơ quan dân cử (Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) trong việc thiết kế quy trình giám sát chuyên đề và hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm giải trình của cơ quan hành pháp.
  • Các cơ quan quản lý và thực thi thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thẩm tra viên) cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc áp dụng các giải pháp tại Chương 4 để phòng ngừa vi phạm, giảm thiểu khiếu nại tố cáo và nâng cao hiệu quả thi hành án.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định bản chất của hoạt động thi hành án dân sự là gì?
Luận án kết luận thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất hành chính - tư pháp. Đây là giai đoạn tiếp nối hay "nối dài" của quá trình tố tụng nhằm bảo đảm cho công lý và các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật được thực thi trên thực tế, khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại.

2. Cơ chế giám sát thi hành án dân sự được chính thức ghi nhận trong văn bản luật từ thời điểm nào?
Theo luận án, các Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989 và năm 2004 chưa quy định về giám sát thi hành án dân sự. Thiết chế này chính thức được quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và tiếp tục khẳng định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, ghi nhận Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan nhà nước khác trong thi hành án dân sự.

3. Khung lý thuyết của luận án xác định ba đặc trưng cơ bản nào của thi hành án dân sự?
Ba đặc trưng cơ bản gồm:

  • Là giai đoạn tiếp nối ("nối dài") của toàn bộ quá trình tố tụng;
  • Tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, đề cao tính tích cực của người được thi hành án và người phải thi hành án;
  • Lấy hoạt động tác nghiệp của chấp hành viên làm trung tâm.

4. Thực trạng án tồn đọng và sai phạm của cán bộ thi hành án dân sự được thể hiện qua các con số nào?
Số liệu trong luận án cho biết: Tính đến ngày 31/3/2015, cả nước còn tồn đọng khoảng 317.000 việc, tương ứng với số tiền gần 86.000 tỷ đồng. Trong năm 2014, cả nước phát sinh 6.718 việc khiếu nại, 532 việc tố cáo; có 114 cán bộ, công chức vi phạm pháp luật bị xử lý (trong đó 98 trường hợp bị kỷ luật và 16 trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự).

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để bảo đảm giám sát thi hành án dân sự?
Luận án đề xuất bốn nhóm giải pháp:

  • Hoàn thiện thể chế về giám sát thi hành án dân sự;
  • Tăng cường hoạt động giám sát của các chủ thể giám sát thi hành án dân sự;
  • Nâng cao nhận thức của cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể và nhân dân đối với giám sát thi hành án dân sự;
  • Mở rộng đối tượng giám sát, nội dung giám sát, đổi mới hình thức và phương thức giám sát.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Giám sát thi hành án dân sự" của tác giả Nguyễn Đình Nhâm đã hoàn thành việc xây dựng khung lý thuyết toàn diện về giám sát thi hành án dân sự dựa trên cách tiếp cận hành chính - tư pháp và lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Công trình phản ánh thực trạng tổ chức thi hành án và hoạt động giám sát của các chủ thể từ năm 1993 đến năm 2014 thông qua các số liệu thực tế về kết quả giải quyết việc, tiền, lượng án tồn đọng và tình hình xử lý vi phạm. Trên cơ sở đó, luận án xác lập hệ thống năm quan điểm và bốn nhóm giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành án dân sự tại Việt Nam.