Tổng quan luận án
Công trình khoa học được thực hiện dưới dạng luận án tiến sĩ luật học với đề tài: "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân", do nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Nhâm thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Quang Tiệp và TS. Trần Văn Luyện. Luận án thuộc chuyên ngành Luật hình sự, hoàn thành năm 2024 tại cơ sở đào tạo ghi nhận trên văn bản là Đại học Thiên Khoa Luật.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, quyền tự do, dân chủ của công dân là những quyền cơ bản, quan trọng của con người, đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và các bản Hiến pháp của Việt Nam. Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sự năm 1985 đã dành riêng một chương gồm 10 điều (từ Điều 119 đến Điều 128) để quy định về nhóm tội phạm này. Đến Bộ luật hình sự năm 1999, nhóm tội này tiếp tục được quy định tại Chương XIII với 10 điều (từ Điều 123 đến Điều 132). Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 được thông qua ngày 19/6/2009 (chuyển Tội xâm phạm quyền tác giả tại Điều 131 sang Chương XVI thành Điều 170a), Chương XIII còn lại 09 điều luật (từ Điều 123 đến Điều 130 và Điều 132).
Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành từ ngày 01/7/2000, tình hình tội phạm xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân có nhiều diễn biến phức tạp về cơ cấu, tính chất và quy mô. Việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử nhóm tội phạm này còn bộc lộ hạn chế; nhiều trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự chưa kịp thời hoặc chưa chính xác. Khung hình phạt quy định trong luật chủ yếu dưới 7 năm tù, dẫn đến việc Tòa án thường tuyên mức phạt tù nhẹ, chưa bảo đảm tính răn đe. Mặt khác, Hiến pháp năm 2013 được thông qua đã ghi nhận quyền con người bên cạnh quyền cơ bản của công dân tại Chương II, đặt ra yêu cầu sửa đổi, hoàn thiện pháp luật hình sự để bảo vệ toàn diện các quyền này. Trên bình diện khoa học pháp lý, các vấn đề lý luận như khái niệm, ý nghĩa, cơ sở và các hình thức trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng.
Mục đích nghiên cứu của luận án là bổ sung lý luận, làm rõ thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; từ đó đề xuất các nội dung cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân và đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm sáng tỏ khái niệm trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ; phân tích ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này; làm rõ quá trình phát triển các quy định qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến nay; nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Đánh giá các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân ở nội dung thể hiện và mức độ đáp ứng yêu cầu lý luận (về cơ sở, hình thức trách nhiệm hình sự và dấu hiệu định khung hình phạt).
- Phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm này ở nước ta trong thời gian qua, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân cơ bản.
- Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân, đồng thời đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của đề tài là trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ. Về phạm vi, luận án nghiên cứu dưới góc độ khoa học luật hình sự bao gồm nội dung lý luận và thực tiễn: các vấn đề chung về khái niệm, ý nghĩa, lịch sử lập pháp và kinh nghiệm quốc tế; nghiên cứu cơ sở, hình thức trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự năm 1999 và khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của Chương XIII Bộ luật hình sự năm 1999 trên phạm vi toàn quốc trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến tháng 6/2013, có so sánh, đối chiếu với giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong văn bản luận án cho thấy tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
Về các công trình nghiên cứu trong nước, tác giả phân chia và điểm lại qua các nhóm tài liệu:
- Luận văn, luận án: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Hiền (2008) tại Trường Đại học Luật Hà Nội về bảo vệ quyền con người trong luật tố tụng hình sự; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh (2010) tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; Luận văn thạc sĩ của Lê Thiết Hùng (2011) tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội về tội xâm phạm chỗ ở của công dân. Các công trình này chỉ tập trung vào khía cạnh tố tụng hoặc nghiên cứu từng tội phạm đơn lẻ.
- Giáo trình và sách chuyên khảo: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2005, 2007), của Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (2001, 2003, 2007), của Khoa Luật thuộc Đại học Huế (2003); sách chuyên khảo về quyền công dân và quyền con người của Đinh Văn Mậu (2003), Ngô Huy Cương (2006), Tường Duy Kiên (2006), Trần Quang Tiệp (2004); sách bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Trần Văn Luyện (2001), Nguyễn Đức Mai (2010), cùng sách bình luận khoa học Phần các tội phạm tập III (2005). Các tài liệu này phân tích dấu hiệu cấu thành tội phạm ở mức độ khái quát, chưa nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm hình sự của nhóm tội.
- Bài viết tạp chí: Đỗ Đức Hồng Hà (2001), Lê Văn Luật (2007), Trịnh Tiến Việt và Nguyễn Thị Thanh (2011) bàn về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; Trịnh Tiến Việt và Trần Thị Quỳnh (2010) nghiên cứu so sánh Bộ luật hình sự Liên bang Nga, Trung Quốc và Thụy Điển; Trịnh Tiến Việt (2007, 2012) phân tích khía cạnh pháp lý và tội xâm phạm chỗ ở; Lê Minh Thông (1998) nghiên cứu về quyền con người trong điều kiện dân chủ.
- Đề tài khoa học nổi bật: Đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009 và cuốn sách chuyên khảo xuất bản năm 2010 của TS. Trịnh Tiến Việt về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân. Tác giả luận án chỉ ra công trình này khảo sát thực tiễn trong giai đoạn 2000-2008, chú trọng dấu hiệu tội phạm mà chưa đi sâu vào chế định trách nhiệm hình sự và hình phạt.
- Các nghiên cứu về chế định trách nhiệm hình sự nói chung: Các công trình của GS. Lê Văn Cảm (2000, 2005), GS. Nguyễn Ngọc Hòa (2001), sách chuyên khảo của GS. Lê Cảm, TS. Phạm Mạnh Hùng và TS. Trịnh Tiến Việt (2005); luận án tiến sĩ của Phạm Mạnh Hùng về chế định trách nhiệm hình sự, của Nguyễn Văn Nam (2008) về nhóm tội kinh tế, của Nguyễn Ngọc Chí (2000) về nhóm tội sở hữu; các bài viết của PGS. Lê Thị Sơn (1996, 1997, 2002).
- Các công trình đã công bố của chính tác giả: Hai bài báo trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (số 21/2012) và Tạp chí Kiểm sát (số 18/2012) bàn về lý luận trách nhiệm hình sự và kiến nghị sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 đối với nhóm tội phạm này.
Về các công trình nghiên cứu ngoài nước, văn bản điểm lại các tài liệu:
- Nhóm lý luận chung: Tác phẩm "On liberty" của John Stuart Mill (1859, bản dịch tiếng Việt 2005); tài liệu "Human Rights: Question and Answers" (LHQ, 2006); tác phẩm "Introducing Democracy 80 Question and Answers" của David Beetham và Kevin Boyle (UNESCO, 2009); tài liệu "Principles of the Rule of Law" (2003, dịch 2004).
- Nhóm nghiên cứu về tội phạm bầu cử: Công trình "Prosecution of Electoral Fraud Under United States Federal Law" của Craig C. Donsanto phân tích quy định xử lý gian lận bầu cử theo luật liên bang Hoa Kỳ; bài viết "Assessing Electoral Fraud in New Democracies: A New Strategic Approach" của Staffan Darnoff (2011) trong Sách trắng IFES.
- Nhóm nghiên cứu về bình đẳng giới và chống bạo hành: "Handbook for Legislation on Violence Against Women" (LHQ, 2010); báo cáo "Ending Violence Against Women: From Words to Action" (LHQ, 2006); tài liệu "Crime Against Women" của Quốc hội Ấn Độ (2013); tài liệu "The Role of Men and Boys in Achieving Gender Equality" (LHQ, 2006).
- Nhóm nghiên cứu về tự do báo chí và nhân quyền: Sách "The First Amendment Handbook" của Lucy A. Dalglish và Gregg P. Leslie (2011) về Tu chính án số 1 Hiến pháp Hoa Kỳ; Báo cáo "Report on Human Rights and Democracy 2012" của Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh (2013); các báo cáo nhân quyền về Australia (2002), Triều Tiên (Jiyoung Song 2006, Amnesty International 2006, UNHRC 2012).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết gồm:
Thứ nhất, bổ sung khoảng trống lý luận về khái niệm, đặc điểm, cơ sở và hình thức trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ trong khoa học luật hình sự Việt Nam.
Thứ hai, mở rộng phạm vi so sánh luật học với pháp luật hình sự các nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản dưới góc độ trách nhiệm hình sự và chế tài hình phạt.
Thứ ba, cập nhật và phân tích số liệu thực tiễn áp dụng trong giai đoạn mới (từ năm 2006 đến tháng 6/2013, so sánh với giai đoạn 2000-2005), tập trung đánh giá việc áp dụng hình phạt.
Thứ tư, xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự dựa trên việc tiếp thu, thể chế hóa các quy định mới về quyền con người, quyền công dân tại Hiến pháp năm 2013.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và khung phân tích, luận án tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ mối quan hệ giữa quyền con người, quyền công dân và quyền tự do, dân chủ. Quyền con người là khái niệm rộng nhất, quyền công dân hẹp hơn và gắn với quốc tịch của một quốc gia cụ thể, trong đó quyền tự do, dân chủ của công dân thuộc nội hàm của quyền công dân và quyền con người. Khái niệm tự do được tác giả phân tích theo phạm trù triết học của Hegel (tự do là cái tất yếu được nhận thức) và trong đời sống thực tiễn (quyền được hành động theo ý nguyện trong khuôn khổ tôn trọng trật tự và quyền của người khác). Khái niệm dân chủ bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại (Athen - quyền lực thuộc về nhân dân), được gắn liền với quan điểm tại Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về phát huy dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương và pháp chế.
Các quyền tự do, dân chủ được phân chia thành ba nhóm:
- Nhóm quyền dân chủ về chính trị: tham gia quản lý nhà nước, biểu quyết khi trưng cầu ý dân, bầu cử, ứng cử, khiếu nại, tố cáo.
- Nhóm quyền dân chủ về kinh tế, văn hóa, xã hội: lao động, tự do kinh doanh, học tập, sở hữu tài sản, nghiên cứu khoa học, bình đẳng nam nữ.
- Nhóm quyền tự do cá nhân: tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình, tự do đi lại và cư trú, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, thư tín.
Luận án phân tích sự đổi mới của Hiến pháp năm 2013 tại Chương II khi ghi nhận đồng thời quyền con người (áp dụng cho mọi người: Điều 16, Điều 20...) và quyền công dân (chỉ dành cho công dân Việt Nam: Điều 23, Điều 25, Điều 26, Điều 27, Điều 28, Điều 29...), cùng nguyên tắc hạn chế quyền tại Điều 14.
Về khái niệm tội phạm, tác giả điểm qua quan điểm của nhiều giáo trình và học giả (tài liệu [51], [94], [54], [86], công trình của GS. Lê Cảm và PGS. Phạm Hồng Hải [30]), từ đó chỉ ra 4 đặc điểm pháp lý hình sự:
- Khách thể: Quan hệ xã hội liên quan tới việc xác lập và thực hiện các quyền tự do, dân chủ được Hiến pháp ghi nhận và pháp luật hình sự bảo vệ.
- Hành vi: Chủ yếu thực hiện dưới dạng hành động, một số ít thể hiện bằng không hành động.
- Chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi luật định; một số tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt (người có chức vụ, quyền hạn hoặc công việc nhất định).
- Lỗi: Lỗi cố ý.
Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa: Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện, xâm phạm đến quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân mà Hiến pháp ghi nhận, được quy định trong Bộ luật hình sự.
Về khái niệm trách nhiệm hình sự, tác giả tổng hợp 4 cách tiếp cận: biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất [85]; hậu quả pháp lý bất lợi tại bản án kết tội [41]; nghĩa tổng thể giữa Nhà nước và người phạm tội [37]; nghĩa trực tiếp là nghĩa vụ của người phạm tội [39]. Tác giả xác lập định nghĩa: Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân là hậu quả pháp lý bất lợi buộc người có hành vi phạm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân phải gánh chịu theo quy định của các chế tài hình sự do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng (Chỉ thị số 12/CT/TW năm 1992, Nghị quyết số 48/NQ-TW năm 2005) và chính sách hình sự của Nhà nước. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học và logic pháp lý.
Nguồn tư liệu, dữ liệu thực tế bao gồm: các văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ (Hiến pháp 1945, 1992, 2013; BLHS 1985, BLHS 1999, Luật sửa đổi năm 2009); điều ước quốc tế; số liệu điều tra, truy tố, xét xử từ năm 2006 đến tháng 6/2013 do các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý; dữ liệu khảo sát thực tế tại một số cơ quan tố tụng; kết quả trao đổi, phỏng vấn cá nhân người tiến hành và tham gia tố tụng; cùng ý kiến tham vấn của các chuyên gia khoa học pháp lý.
Nội dung chính theo từng chương
Dưới đây là bảng tổng hợp các số liệu thực tế được văn bản ghi nhận về tiến trình lập pháp và thực tiễn xử lý tội phạm:
| Tiêu chí thống kê |
Số lượng / Nội dung ghi nhận trong văn bản |
| Số điều luật tại BLHS năm 1985 (Chương riêng) |
10 điều (từ Điều 119 đến Điều 128) |
| Số điều luật tại BLHS năm 1999 ban đầu (Chương XIII) |
10 điều (từ Điều 123 đến Điều 132) |
| Số điều luật tại Chương XIII sau Luật sửa đổi năm 2009 |
09 điều (từ Điều 123 đến Điều 130 và Điều 132) |
| Tổng số vụ án điều tra, truy tố, xét xử (2006 - 6/2013) |
1.111 vụ |
| Tổng số bị cáo bị xử lý hình sự (2006 - 6/2013) |
2.912 bị cáo |
| Mức hình phạt cao nhất quy định trong Chương XIII BLHS 1999 |
Tù có thời hạn, khung hình phạt chủ yếu dưới 7 năm |
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày bức tranh tổng thể về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước qua 3 tiểu mục:
- 1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước: Phân tích các luận án, luận văn, giáo trình đại học, sách chuyên khảo, sách bình luận khoa học và bài báo tạp chí từ năm 1996 đến năm 2012. Tác giả chứng minh các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ phân tích cấu thành tội phạm cụ thể, bình luận điều luật riêng lẻ hoặc nghiên cứu trách nhiệm hình sự nói chung, chưa có công trình nào giải quyết toàn diện trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội phạm này.
- 1.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước: Điểm lại các công trình kinh điển và báo cáo quốc tế về nhân quyền, bầu cử, chống bạo hành phụ nữ và tự do báo chí tại Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Ấn Độ, Liên hợp quốc. Tác giả chỉ ra các công trình này được xây dựng trên cơ sở chuẩn mực pháp lý riêng của từng nước, không đi sâu vào thực tiễn và lý luận pháp luật hình sự Việt Nam.
- 1.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu: Xác định rõ khoảng trống lý luận về khái niệm, đặc điểm, cơ sở và hình thức trách nhiệm hình sự; sự cần thiết khảo sát dữ liệu thực tiễn giai đoạn 2006 - 6/2013; và yêu cầu thể chế hóa tinh thần bảo vệ quyền con người của Hiến pháp năm 2013 vào pháp luật hình sự.
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN
Nội dung chương tập trung làm sáng tỏ các vấn đề nền tảng lý luận qua 3 tiểu mục:
- 2.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân: Phân tích quyền tự do, dân chủ trong mối tương quan với quyền con người và quyền công dân; phân loại ba nhóm quyền tự do, dân chủ; phân tích tinh thần mới của Hiến pháp năm 2013; xây dựng định nghĩa khoa học về tội phạm và định nghĩa về trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này. Phân tích các đặc điểm chung của trách nhiệm hình sự (phát sinh trong quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội; thể hiện qua cưỡng chế hình phạt, biện pháp tư pháp, án tích; mang tính cá nhân chịu trước Nhà nước; hình phạt là biện pháp nghiêm khắc nhất) và đặc điểm riêng (tính "động", phụ thuộc bối cảnh phát triển chính trị - xã hội). Phân tích ý nghĩa trên ba bình diện: chính trị - xã hội, lập pháp và thực tiễn (gắn với Chỉ thị 12/CT/TW và Nghị quyết 48/NQ-TW).
- 2.2 Khái quát quá trình phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân: Đánh giá quá trình lập pháp từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, qua giai đoạn BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999 và Luật sửa đổi năm 2009.
- 2.3 Những quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong pháp luật hình sự một số nước: Khảo cứu quy định hình sự của một số quốc gia (Liên bang Nga, Trung Quốc, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Nhật Bản), so sánh sự tương đồng, khác biệt và rút ra các bài học kinh nghiệm về kỹ thuật lập pháp, phân hóa trách nhiệm hình sự và quy định hình phạt.
Chương 3: TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Chương 3 đi sâu đánh giá kỹ thuật lập pháp và số liệu thực tiễn thi hành qua 4 tiểu mục:
- 3.1 Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân: Phân tích căn cứ định tội và các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của 09 điều luật tại Chương XIII BLHS năm 1999 (sửa đổi năm 2009).
- 3.2 Các dấu hiệu định khung hình phạt: Phân tích các tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại các khoản tăng nặng của từng điều luật thuộc Chương XIII.
- 3.3 Các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân: Phân tích việc quy định và áp dụng hệ thống hình phạt chính (chủ yếu là phạt tù có thời hạn), hình phạt bổ sung và các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội.
- 3.4 Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân: Trình bày số liệu thống kê trong giai đoạn từ năm 2006 đến tháng 6/2013 với 1.111 vụ án và 2.912 bị cáo; so sánh với giai đoạn 2000-2005. Luận án chỉ ra các nhóm tội xảy ra nhiều nhất trong thực tiễn gồm: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123); Tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 124); các hành vi đối xử bất bình đẳng đối với phụ nữ (Điều 125); xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 132). Phân tích thực trạng Tòa án áp dụng mức phạt tù nhẹ do khung hình phạt luật định thấp, chỉ rõ những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân trong công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Chương 4: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
Chương 4 đề xuất các giải pháp lập pháp và thực thi qua 2 tiểu mục:
- 4.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân: Đề xuất chuyển hóa khái niệm khách thể bảo vệ từ "quyền của công dân" sang "quyền của con người, quyền của công dân" theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; sửa đổi, bổ sung mô tả hành vi khách quan, tội danh, cấu thành tội phạm; điều chỉnh các tình tiết định khung và nâng mức chế tài hình phạt nhằm tương xứng với tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
- 4.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng: Đề xuất ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của Chương XIII; tăng cường năng lực chuyên môn, phẩm chất của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao ý thức tôn trọng các quyền tự do, dân chủ trong nhân dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Văn bản luận án đã nêu rõ những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về lý luận: Công trình làm sáng tỏ một cách có hệ thống những nội dung lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ; xây dựng định nghĩa khoa học pháp lý về tội phạm và trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này; chỉ ra ý nghĩa và các đặc điểm đặc thù của trách nhiệm hình sự. Luận án hệ thống hóa quá trình lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay và phân tích kinh nghiệm pháp luật hình sự quốc tế để rút ra các giá trị tham khảo.
- Đóng góp về thực tiễn: Đánh giá nội dung và mức độ đáp ứng của BLHS năm 1999 về cơ sở, hình thức trách nhiệm hình sự và dấu hiệu định khung; phân tích toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật từ năm 2006 đến tháng 6/2013 (với 1.111 vụ/2.912 bị cáo), so sánh với giai đoạn 2000-2005. Qua đó, chỉ rõ những bất cập, hạn chế trong khâu điều tra, truy tố, xét xử và nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Đưa ra các giải pháp cụ thể sửa đổi, bổ sung các điều luật thuộc Chương XIII BLHS năm 1999 trên cơ sở thể chế hóa quy định về quyền con người, quyền công dân tại Hiến pháp năm 2013; đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản cho thấy phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu dưới góc độ khoa học luật hình sự (Chương XIII BLHS năm 1999 sửa đổi năm 2009), chưa đi sâu vào toàn bộ quy trình tố tụng hình sự hay tội phạm học tổng thể. Dữ liệu thực tiễn được khảo sát dừng lại ở mốc thời gian từ năm 2006 đến tháng 6/2013. Ngoài ra, tại thời điểm tác giả nghiên cứu, pháp luật hình sự Việt Nam chỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, chưa đặt ra trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.
Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản chỉ ra sự cần thiết phải tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành các quy định pháp luật hình sự mới sau khi Hiến pháp năm 2013 đi vào đời sống; nghiên cứu hoàn thiện pháp luật bảo vệ các quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình đồng bộ với việc ban hành các đạo luật chuyên ngành; đồng thời tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về các chế tài hình sự xử lý hành vi xâm phạm quyền con người trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng:
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan nghiên cứu xây dựng chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để rà soát, sửa đổi, bổ sung các tội danh xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân trong quá trình hoàn thiện Bộ luật hình sự, bảo đảm tương thích với Hiến pháp năm 2013. Nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 4 với các kiến nghị lập pháp chi tiết.
- Đối với cơ quan và người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Cung cấp các phân tích về cơ sở pháp lý định tội danh, dấu hiệu định khung hình phạt và bài học thực tiễn xét xử, hỗ trợ việc giải quyết vụ án chính xác, đúng người, đúng tội, khắc phục tình trạng áp dụng hình phạt quá nhẹ. Nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 3.
- Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo luật học: Là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật hình sự. Nội dung đáng tham khảo nhất là khung phân tích lý luận, khái niệm và lịch sử lập pháp tại Chương 1 và Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân như thế nào?
Theo tác giả, trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân là hậu quả pháp lý bất lợi buộc người có hành vi phạm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của con người, của công dân phải gánh chịu theo quy định của các chế tài hình sự do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng.
2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với nhóm tội này trong giai đoạn từ năm 2006 đến tháng 6/2013 ghi nhận những số liệu và tội danh phổ biến nào?
Trong giai đoạn từ năm 2006 đến tháng 6/2013, các cơ quan tiến hành tố tụng trên phạm vi cả nước đã điều tra, truy tố, xét xử 1.111 vụ án với 2.912 bị cáo phạm các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân. Các tội danh xảy ra nhiều nhất gồm: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; Tội xâm phạm chỗ ở của công dân; hành vi đối xử bất bình đẳng đối với phụ nữ; và hành vi xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
3. Chương XIII của Bộ luật hình sự năm 1999 có sự thay đổi như thế nào về cơ cấu điều luật sau năm 2009?
Ban đầu, Chương XIII Bộ luật hình sự năm 1999 gồm 10 điều luật (từ Điều 123 đến Điều 132). Ngày 19/6/2009, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999, chuyển Tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) sang Chương XVI về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (thành Điều 170a). Do đó, Chương XIII chỉ còn lại 09 điều luật, gồm từ Điều 123 đến Điều 130 và Điều 132.
4. Tại sao việc Hiến pháp năm 2013 được thông qua lại đặt ra yêu cầu sửa đổi căn bản Chương XIII Bộ luật hình sự năm 1999?
Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên ghi nhận quyền con người đồng thời với quyền công dân tại Chương II, phân định rành mạch giữa các quyền của mọi người (quyền con người) và các quyền gắn riêng với công dân Việt Nam. Trong khi đó, Chương XIII BLHS năm 1999 chỉ ghi nhận bảo vệ "quyền tự do, dân chủ của công dân" theo Hiến pháp năm 1992. Do đó, cần hoàn thiện BLHS để mở rộng khách thể bảo vệ sang quyền tự do, dân chủ của cả con người và công dân.
5. Nguyên nhân nào dẫn đến việc Tòa án thường tuyên mức hình phạt tù nhẹ đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân?
Văn bản luận án chỉ rõ nguyên nhân lập pháp là do trong Bộ luật hình sự năm 1999, hình phạt nghiêm khắc nhất quy định cho nhóm tội này là tù có thời hạn với khung hình phạt chủ yếu dưới 7 năm tù. Mức chế tài luật định thấp đã chi phối thực tiễn xét xử, khiến Tòa án thường áp dụng mức phạt tù nhẹ, làm giảm hiệu quả răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đình Nhâm đã nghiên cứu có hệ thống trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, khảo sát dữ liệu thực tiễn giai đoạn 2006 - 6/2013 với 1.111 vụ án và 2.912 bị cáo, đồng thời phân tích những bất cập trong quy định và áp dụng pháp luật. Trên cơ sở đối chiếu với Hiến pháp năm 2013 và kinh nghiệm quốc tế, luận án đưa ra các kiến nghị hoàn thiện Bộ luật hình sự và các giải pháp thực thi nhằm bảo vệ toàn diện quyền tự do, dân chủ của con người và công dân.