Khóa Luận Tốt Nghiệp Về Bảo Lãnh Theo Quy Định Pháp Luật Dân Sự Việt Nam

Chuyên khảo luật học phân tích Khoá luận tốt nghiệp bảo lãnh theo quy định của pháp luật dân sự việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Mở Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

65
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO LÃNH

1.1. Khái niệm của bảo lãnh

1.2. Đặc điểm của bảo lãnh

1.3. Phân loại bảo lãnh

1.4. Căn cứ vào chủ thể thực hiện bảo lãnh

1.5. Căn cứ vào tính chất của bảo lãnh

1.6. Căn cứ vào sự ràng buộc nghĩa vụ giữa những người bảo lãnh

1.7. Căn cứ vào tính chuyên nghiệp

1.8. Căn cứ vào cách thức thực hiện bảo lãnh

1.9. Lịch sử hình thành quy định về bảo lãnh

1.10. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO LÃNH

2.1. Đối tượng của bảo lãnh

2.2. Phạm vi của bảo lãnh

2.3. Thời hạn bảo lãnh và thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

2.4. Miễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

2.5. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh

2.6. Chấm dứt bảo lãnh

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH

3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh

3.2. Căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

3.3. Hình thức bảo lãnh

3.4. Phạm vi bảo lãnh

3.5. Trách nhiệm bảo lãnh liên đới

3.6. Những bất cập của Bộ luật Dân sự 2015 về bảo lãnh

3.7. Về hình thức của hợp đồng bảo lãnh

3.8. Về quyền của bên bảo lãnh

3.9. Về chấm dứt bảo lãnh

3.10. Về miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

3.11. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh

3.12. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bảo lãnh

3.13. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái niệm và Đặc điểm của Bảo lãnh

Bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, được quy định tại Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, bảo lãnh được hiểu là việc một người thứ ba cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ khi bên này không thực hiện nghĩa vụ của mình. Đặc điểm của bảo lãnh bao gồm tính chất đối nhân, nghĩa vụ thứ cấp và sự tham gia của bên thứ ba. Bảo lãnh không chỉ là một biện pháp bảo đảm mà còn là một giao dịch dân sự, thể hiện sự cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh. Điều này có nghĩa là bên bảo lãnh không có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình, mà chỉ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ khi bên có nghĩa vụ vi phạm. Bảo lãnh mang tính chất bảo đảm cho nghĩa vụ chính, không vượt quá phạm vi của nghĩa vụ này.

1.1. Phân loại Bảo lãnh

Bảo lãnh có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Theo tính chất, bảo lãnh có thể là bảo lãnh bằng tài sản hoặc bảo lãnh bằng uy tín. Bảo lãnh bằng tài sản thường liên quan đến việc sử dụng tài sản cụ thể để đảm bảo cho nghĩa vụ, trong khi bảo lãnh bằng uy tín dựa vào sự tin tưởng của bên nhận bảo lãnh vào khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh. Ngoài ra, bảo lãnh cũng có thể được phân loại theo đối tượng bảo lãnh, như bảo lãnh cá nhân, bảo lãnh doanh nghiệp, hoặc bảo lãnh ngân hàng. Mỗi loại bảo lãnh sẽ có những quy định và điều kiện cụ thể khác nhau, ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.

II. Quy định của Pháp luật hiện hành về Bảo lãnh

Pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng về các điều kiện và thủ tục liên quan đến bảo lãnh. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, bảo lãnh chỉ có hiệu lực khi có sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh. Thời hạn bảo lãnh cũng được quy định cụ thể, nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên nhận bảo lãnh. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ. Điều này có nghĩa là bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thay thế cho bên được bảo lãnh, nếu bên này không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên nhận bảo lãnh và tạo ra sự công bằng trong các giao dịch dân sự.

2.1. Thời hạn và Thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Thời hạn bảo lãnh là một yếu tố quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của bảo lãnh. Theo quy định, thời hạn bảo lãnh phải được ghi rõ trong hợp đồng bảo lãnh. Nếu không có thời hạn cụ thể, bảo lãnh sẽ tự động chấm dứt khi nghĩa vụ được bảo lãnh đã được thực hiện. Bên cạnh đó, việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cũng cần tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành. Bên bảo lãnh có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ của mình. Điều này không chỉ đảm bảo quyền lợi cho bên nhận bảo lãnh mà còn tạo ra sự tin tưởng trong các giao dịch dân sự.

III. Thực tiễn áp dụng Pháp luật về Bảo lãnh

Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh tại Việt Nam cho thấy nhiều vấn đề còn tồn tại. Các quy định hiện hành chưa hoàn thiện, dẫn đến việc áp dụng pháp luật gặp nhiều khó khăn. Nhiều trường hợp tranh chấp liên quan đến bảo lãnh đã xảy ra, cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật. Đặc biệt, việc xác định trách nhiệm của bên bảo lãnh trong các trường hợp cụ thể vẫn còn nhiều bất cập. Do đó, cần có những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia giao dịch.

3.1. Kiến nghị hoàn thiện Pháp luật về Bảo lãnh

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo lãnh, cần có những kiến nghị cụ thể như: hoàn thiện các quy định về thời hạn bảo lãnh, trách nhiệm của bên bảo lãnh, và quy trình thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Ngoài ra, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo lãnh cho các tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch. Việc này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về bảo lãnh mà còn tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch, công bằng cho các giao dịch dân sự.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số van để chung về bao lãnh. Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về bao lãnh Chương 3: Thực tiễn ap dung pháp luật, kién nghị hoàn thiền pháp luật và giãi pháp nâng cao hiệu qua thi han pháp luật vẻ bao lãnh. NỘI DUNG CHƯƠNG1: MỘT SỐ VAN DE CHUNG VE BẢO LÃNH. Khải niệm của bảo lãnh: Bão lãnh là một biển pháp bảo dim truyền thống, sớm được sử dụng xông rãi.

Khái niệm bao lãnh đưới góc đô kinh tế zã hội và góc đô pháp lý được hiểu theo các cách khác nhau. Đồng thời, bao lãnh theo quy định của pháp luật các nước khác nhau cũng có những điểm khác biệt Theo từ điển Tiếng Việt (Từ điền Hoàng Phê), bảo lãnh được hiểu theo hai nghĩa “Mit là: bao lãnh là béo đảm người khác thực hiện một nghĩa vụ va chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiên, Hai la: là việc dùng uy tín của mình để bảo dam cho hành động, tư cách của người khác" Từ đính ngiữa trên cho thấy, đưới góc độ kinh tế zã hội, bao lãnh 1a việc một người đứng ra bao dim việc thực hiện nghĩa vu của người khác Trong trưởng hợp người có nghĩa vụ không thực hiện được thi người bao lãnh phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện đó. “Bao lãnh” theo giải ngiĩa của Từ điễn tiếng Việt nêu trên vừa có thể là một hành vi pháp lý mang tính chất đổi vật (bão đầm bằng tải sản), vừa có thé 1 han vi pháp lý mang tính chất đôi nhân (bão đầm bằng uy tin). Tính chất đối vật của sự bao lãnh thể hiện ở c tgười đứng ra bão lãnh co thé cam kết dùng quyển cia minh đối với các tài sản xác định để bão dam cho ngiĩa vụ của một người khác.

Con tinh chất đổi nhân của su bảo lãnh lại thể hiện ở chỗ, người đứng, ra bảo lãnh có thé cam két ding tư cách, phẩm chất, uy tin của minh doi với người khác để bão đăm cho hảnh động hay tư cách của người thử ba "Trong inh vực pháp lý Viết Nam hiện đại, bảo lãnh được quan niềm 1a một trong những biện pháp bao dm thực hiện nghĩa vụ được quy định tai Điều 335 trongBộ luật Dân sự năm 2015 Vin Ngôn Ng học, Tan Tống ii, os Ba Nẵng 2003, 39 6 “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đê got én bảo lãnh) cam lết với bên có quyén (san đây got là bên nhận bảo lãnh) sẽ fhực hiện ngiữa vụ thay cho bên có ngiữa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nễu khử đến thời am thực hiện nghĩa vụ mà bên được bdo lãnh không thực hiện hoặc thee hiên ing ding nghia vụ Nour vậy, mắc dù có những định nghĩa khác nhau nhưng nhin một cách chung nhất, bao lãnh được hiểu lả việc bên thứ ba cam kết với bên có quyển. việc sé thực hiện thay nghĩa vụ cia bến có ngiĩa vu khi bên có nghĩa vụ vi pham nghĩa vụ với bên có quy: sử vi pham nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ la điểu kiên cho việc thực hiện nghĩa vụ bão lãnh. Đặc điễm của bảo lãnh: 'Với tư cách là một biện pháp bão đảm thực hiện nghĩa vu dân sự, bão lãnh mang đặc điểm chung của một biện pháp bao dim nghĩa vụ dân sư như. Phát sinh từ sự thda thuân của các bên, phát sinh từ nghĩa vụ chính và nhằm.

ảo đêm cho việc thực hiện nghĩa vụ chính, có pham vi bão đảm không vượt quá phạm vi của ngiia vụ chính và chi được áp dụng khi có sự vi pham nghĩa ‘vu chỉnh. Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, bo lãnh còn có những đặc trưng riêng để phân biệt nó với các biện pháp bao dam khác, cụ thể Thư nhất, Bao lãnh là tiện pháp bao đảm mang tính chất đổi nhân Dé nhận định biện pháp bảo đâm mang tính đối vật (vật quyền) hay đối nhân (trái quyên) phải dựa trên tiêu chí (tài sản và uyên) có hay không có tải sản được đưa ra để đảm bao và bên có quyển có quyển nào đổi với tài sản dung để dam bảo hay không, Bảo dim đối nhân là bên có quyển (bên nhận bảo lãnh) được quyển yêu cầu đối với chính bên cam kết thực hiện nghĩa vụ thực hiện thay ngiĩa vụ của "bên có nghĩa vụ (bên bao lãnh) chứ không được quyền wu tiên thu nơ từ một tải sin cu thé nào của bên có nghĩa vụ. Khác với các biên pháp bão đảm đổi vật là bên bao đêm trao cho bên có quyển (bên nhận bảo đảm) quyền đổi với tải sin bão dam và quyển wu tiên thu nợ từ tài sin bảo dim, cho dù tai sin đó 7 đang nằm trong tay ai va tình trang thực tế như thé nao Nếu như trong biến pháp cằm có, thé chấp, bên có quyển (bên nhận. cm cổ, bên nhận thé châp) được bên có nghĩa vụ (bên cảm cổ, bên thé chấp) chuyển giao quyền chiếm hữu, quản lý tai sin/gidy tờ chứng minh quyền sỡ hữu đối với tai sản, quyển xử lý tai sin bảo dim đối với một tai sản cu thi xác định thi trong quan hệ bão lãnh, bên có quyển (bên nhân bão lãnh) không có bat cứ quyền não đối với bất kỹ tải sin nào của bên bảo lãnh.

Trong quan hệ bảo lãnh không có sự xuất hiện của tải sẵn bao dim, bên bão lãnh chỉ đưa ra cam kết thực hiền ngiữa vu thay bên được bảo lãnh và bên nhận bã lãnh: chi có quyển yêu cầu bên bão lãnh thực hiện ngiĩa vụ bão lãnh. Như vậy, xét dưới góc độ này, hình thức bao lãnh theo quy định của Pháp luật Việt Nam là biện pháp bảo đầm đối nhân. Thứ hai, Nghĩa vụ bao lãnh là nghĩa vụ thứ cấp phát sinh theo ngiấa vụ. được bão lãnh Theo quy định của BLDS 2015, nghĩa vụ bảo lãnh chỉ phát sinh khi có sử vị pham nghĩa vụ của bên được bảo lãnh với bên có quyển (bên nhận bão lãnh).

Nói cach khác, nghĩa vụ bão lãnh sẽ không tổn tai néu nghĩa vụ được ảo lãnh đã châm dit hoặc không tén tại. Bến canh đó, do bảo lãnh để đảm. ‘bao cho một ngiấa vụ nhất định nên giá tri cia bảo lãnh: phụ thuộc vào giá ti nghĩa vụ được bao lãnh và pham vi bảo lãnh không thể vượt quá phạm vi nghĩa vụ được bao lãnh. Thứ ba, Bên bao dim luôn là người thứ ba "Thông thường khi xác lâp một quan hệ ngiấa vụ thi các bên thường đất xiểm tin vao nhau, theo do mỗi bên tự giác thực hiện nghĩa vụ của minh một cách thiện chi.

Du vậy, để chắc. ig quyển, loi ích của mình phải được. thực hiện, bên có quyển sẽ sử dụng một biển pháp bao đảm thực hiện nghĩa vụ nhất định, theo đó, bên có nghĩa vụ phải bằng một tai sin để bão dam cho việc thực hiện nghĩa vụ của minh. Trong các trường hợp nay thi bên bão đảm.

cũng đông thời lả bên có nghĩa vụ. Chẳng hạn, một người muốn vay người 8 khác một khoản tiên phải có tải săn để thé chấp, hoặc cảm cổ trước người cho vay để bao dim rằng khi khoản vay đảo hạn, bến vay buộc phải trả nợ, nếu. không bên cho vay có quyền xử lý tài sản đó để thu hồi khoản tién đã cho vay. Tuy nhiên, trong những trường hợp bên có quyển không tin tưởng vào sự tự giác, thiên chi của bén có nghĩa vụ mã bên có nghĩa vụ cũng không có tài sin để bao đảm cho việc thực hiên nghĩa vu thì các bên phải sử dụng một biện pháp bảo dam mã trong đỏ, người đứng ra bão dim việc thực hiện nghĩa vụ là một người khác.

Trong khoản 1 Điều 335 BLDS 2015 có sử dung thuật ngữ “người tue ba, điêu đó nói lên rằng người đứng ra bảo lãnh lả người nằm ngoài mỗi quan hệ nghĩa vụ chính (quan hệ nghĩa vụ được bảo đăm thực hiện bằng biên pháp bảo lãnh). Bao lãnh luôn phải lá người thứ ba so với quan hệ nghĩa vụ. được bao dam. Bao lãnh không phải bên có quyển, cũng không phải bên có ngiĩa vu Tint te Nghĩa vụ được bao lãnh phải 1 nghĩa vụ có thể chuyển giao: Trong quan hệ bão lãnh, bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho ‘bén được bảo lãnh néu đến hạn mà bén được bao lãnh không thực hiện ngiữa vụ hoặc thực hiên không đúng ngiĩa vụ.

Như vậy, ở day có sự chuyển giao ngiữa vụ từ bên được bão lãnh sang bên bảo lãnh. Về mặt nguyên tắc, ngoải những ngiĩa vụ gắn liễn với nhân thân hoặc những nghĩa vụ pháp luật quy định không được chuyển giao thì các bên có thể thỏa thuận về việc chuyển. giao thực hiện ngiĩa vụ nếu bên cô quyên đổng y. Việc pháp luật quy nh việc chuyển giao thực hiên nghĩa vụ bat buộc phải có sự ig ý của bến có quyển nhằm đảm bảo quyển lợi của bên có quyền, hạn chế trường hợp chuyển.

giao nghĩa vụ cho bên không có khả năng thực hiện Thứ năm, Vừa là một biện pháp bảo đảm, vừa là một giao dich dân sự. Bảo lãnh 1a một biển pháp bao dm thực hiện nghĩa vụ, thiết lập theo théa thuận giữa các bi , hình thánh nghĩa vụ bo lãnh thì bảo lãnh chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc hợp đông thông thường. 9 Bao lãnh vừa 1a một giao dich dân sự, bõi lẽ: “Bao lãnh la việc người thứ ba (sau đây goi la bén bao lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây goi lả ‘bén nhận bao lãnh) sẽ thực hiến ngiĩa vụ thay cho bên có ngiĩa vụ (sau day gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời han thực hiện nghĩa vụ ma bên. được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vu"? Việc ‘bén bão lãnh cam kết với bến nhân bảo lãnh như một lời dé nghỉ giao kết hợp đồng, nêu bên có quyền không nhân bảo lãnh thi không có quan hệ bao lãnh.

Con néu đẳng ý thì sẽ hinh thành quan hệ bão lãnh, giao dich này được gọi là hop đồng bao lãnh, Thể sản, Bảo lãnh có thể là tiên dé làm xuất hiện các biện pháp bao im khác Bảo lãnh lả một biển pháp bảo dim thực hiện ngiĩa vu, nghĩa vụ bão đầm la nghĩa vụ thứ cấp, phái sinh từ ngiấa vụ chính (nghĩa vụ được bảo lãnh), Thêm nữa, từ ngiữa vụ “phụ” này có thể có thêm một biện pháp bảo dim khác im bão cho nghĩa vụ bao lãnh được thực hiên. Biéu đó có nghĩa, bao lãnh sẽ 1a in để Lam xuất hiện các biện pháp bảo dam khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Bảo Lãnh Theo Quy Định Pháp Luật Dân Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn tổng quan về quy định pháp luật liên quan đến bảo lãnh trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam. Tác giả phân tích các khái niệm cơ bản, quy trình thực hiện và trách nhiệm của các bên liên quan trong hợp đồng bảo lãnh. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các giao dịch bảo lãnh, mà còn chỉ ra những lợi ích pháp lý mà bảo lãnh mang lại trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận văn thạc sĩ luật học giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự và thực tiễn tại tỉnh yên bái", nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về quy trình tố tụng hình sự. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ luật học hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật dân sự và thực tiễn thi hành tại một số tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn huyện thanh miện tỉnh hải dương" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hợp đồng trong lĩnh vực đất đai. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ luật học phiên toà sơ thẩm dân sự và thực tiễn thực hiện tại toà án nhân dân quận đống đa" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình xét xử dân sự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và áp dụng kiến thức vào thực tiễn.