Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong đời sống kinh tế - xã hội, giao dịch dân sự là phương thức cơ bản để các cá nhân và pháp nhân xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng cũng như tìm kiếm lợi nhuận trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, các giao dịch này luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro phát sinh từ hành vi vi phạm nghĩa vụ của các bên tham gia. Do đó, việc thiết lập các cơ chế bảo đảm an toàn pháp lý là yêu cầu tất yếu, được Bộ luật Dân sự (BLDS) ghi nhận thông qua chế định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó bảo lãnh là một công cụ pháp lý truyền thống và giữ vai trò quan trọng.
Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực đã kế thừa và hoàn thiện nhiều quy định về bảo lãnh so với các văn bản tiền nhiệm. Mặc dù vậy, hệ thống quy phạm hiện hành vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập và tồn tại nhiều quan điểm mâu thuẫn liên quan đến cơ cấu chủ thể, đối tượng, hình thức pháp lý, phạm vi bảo lãnh, cũng như thời hạn và thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều Tòa án nhân dân còn lúng túng trong việc vận dụng quy định pháp luật, dẫn đến tình trạng áp dụng quy phạm chưa phù hợp hoặc thiếu thống nhất giữa các cấp xét xử đối với cùng một loại vụ việc. Bên cạnh đó, bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và chuẩn bị đón nhận các làn sóng dịch chuyển đầu tư từ các tập đoàn kinh tế lớn (như Intel, Apple) đòi hỏi khung pháp lý về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phải được hoàn thiện đồng bộ nhằm bảo đảm cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo lãnh, chỉ ra các vướng mắc, bất cập trong quy định của BLDS năm 2015 và trong hoạt động xét xử thực tế, từ đó đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành. Để hiện thực hóa mục tiêu này, đề tài triển khai bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu và làm sáng tỏ cơ sở lý luận chung về biện pháp bảo lãnh (khái niệm, đặc điểm, phân loại và lược sử phát triển).
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về bảo lãnh để làm rõ những điểm hoàn thiện cũng như hạn chế còn tồn tại.
- Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh tại Tòa án các cấp thông qua các bản án, quyết định cụ thể nhằm xác định các khó khăn, sai sót và yêu cầu thực tiễn đặt ra.
- Đề xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành chế định bảo lãnh tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy định pháp luật dân sự về bảo lãnh và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo lãnh tại Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định chung về bảo lãnh trong pháp luật dân sự (khái niệm, đặc điểm, đối tượng, phạm vi, quyền và nghĩa vụ các bên, miễn thực hiện nghĩa vụ, chấm dứt bảo lãnh) theo BLDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, có đối chiếu với các giai đoạn lập pháp trước đó (Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, BLDS năm 1995, BLDS năm 2005). Đề tài giới hạn không gian nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và không đi sâu vào các lĩnh vực bảo lãnh chuyên ngành đặc thù như bảo lãnh ngân hàng hay bảo lãnh chính phủ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Tác giả vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ công trình nhằm mổ xẻ các khái niệm, quy phạm pháp luật thực định và khái quát hóa thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thi hành.
- Phương pháp so sánh luật học: Được áp dụng trọng tâm để đối chiếu quy định về bảo lãnh của BLDS năm 2015 với BLDS năm 2005, BLDS năm 1995 và Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991; đồng thời đối chiếu các quy định pháp luật thời kỳ phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc để làm nổi bật sự chuyển dịch bản chất pháp lý của chế định.
- Phương pháp logic và đối chiếu thực tiễn: Kết hợp giữa phân tích lý luận với nghiên cứu các bản án, quyết định thực tế của Tòa án nhân dân các cấp nhằm kiểm chứng tính chính xác, phù hợp của các quy phạm hiện hành.
Cơ sở dữ liệu và tài liệu nghiên cứu của khóa luận bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định (BLDS năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP; các văn bản lịch sử như Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật 1936, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991, BLDS 1995, BLDS 2005); các giáo trình, sách chuyên khảo của các chuyên gia pháp lý đầu ngành (Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang, Trương Thanh Đức, Đỗ Văn Đại); luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hải Ngân; luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Khanh; các bài viết nghiên cứu đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Nghề luật (của các tác giả Tường Duy Lượng, Hồ Quang Huy, Phạm Văn Lợi); và hệ thống các bản án thực tế được công bố công khai của Tòa án nhân dân các tỉnh/thành phố: An Giang, Vĩnh Long, Sơn La, Đồng Tháp, TP. Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo lãnh
Chương này tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng của chế định bảo lãnh:
- Khái niệm: Phân tích góc độ xã hội học ngôn ngữ (Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên) và góc độ pháp lý theo Điều 335 BLDS năm 2015. Theo đó, bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
- Đặc điểm pháp lý của bảo lãnh: Khóa luận xác định 6 đặc trưng pháp lý cốt lõi:
- Là biện pháp bảo đảm mang tính chất đối nhân: Bên nhận bảo lãnh được quyền yêu cầu đối với chính bên cam kết thực hiện thay nghĩa vụ chứ không có quyền ưu tiên thu nợ trực tiếp từ một tài sản cụ thể xác định như các biện pháp đối vật (cầm cố, thế chấp).
- Nghĩa vụ bảo lãnh là nghĩa vụ thứ cấp phát sinh theo nghĩa vụ được bảo lãnh: Tồn tại phụ thuộc vào nghĩa vụ chính; nếu nghĩa vụ chính chấm dứt hoặc không tồn tại thì nghĩa vụ bảo lãnh cũng không phát sinh hoặc chấm dứt; phạm vi bảo đảm không vượt quá nghĩa vụ chính.
- Bên bảo đảm luôn là người thứ ba: Nằm ngoài quan hệ nghĩa vụ chính giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ.
- Nghĩa vụ được bảo lãnh phải là nghĩa vụ có thể chuyển giao: Ngoại trừ các nghĩa vụ gắn liền với nhân thân hoặc luật cấm chuyển giao.
- Vừa là một biện pháp bảo đảm, vừa là một giao dịch dân sự (hợp đồng bảo lãnh): Chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc giao kết hợp đồng.
- Có thể là tiền đề làm xuất hiện các biện pháp bảo đảm khác: Điển hình như bên bảo lãnh thế chấp tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh của mình đối với bên nhận bảo lãnh.
- Ý nghĩa của việc sử dụng bảo lãnh: Đánh giá tác động đối với bên nhận bảo lãnh (bảo đảm thu hồi quyền lợi vật chất), bên bảo lãnh (phát sinh trách nhiệm nhiều hơn quyền lợi đối với bảo lãnh không chuyên nghiệp; tạo nguồn thu từ phí bảo lãnh đối với bảo lãnh chuyên nghiệp của tổ chức tín dụng), bên được bảo lãnh (tạo điều kiện xác lập giao dịch chính) và nền kinh tế - xã hội (thúc đẩy tín dụng, sản xuất kinh doanh, hỗ trợ giải quyết tranh chấp).
- Phân loại bảo lãnh:
| Tiêu chí phân loại |
Các hình thức bảo lãnh |
| Căn cứ chủ thể thực hiện |
Bảo lãnh một người; Bảo lãnh nhiều người; Bảo lãnh dân sự; Bảo lãnh ngân hàng. |
| Căn cứ tính chất |
Bảo lãnh vô điều kiện (cam kết vô điều kiện); Bảo lãnh có điều kiện (phải chứng minh sự vi phạm của bên được bảo lãnh). |
| Căn cứ sự ràng buộc nghĩa vụ |
Bảo lãnh liên đới (áp dụng theo luật định khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ); Bảo lãnh riêng rẽ (từng người chịu một phần nghĩa vụ theo thỏa thuận). |
| Căn cứ tính chuyên nghiệp |
Bảo lãnh chuyên nghiệp (do các tổ chức tín dụng thực hiện theo nghiệp vụ); Bảo lãnh không chuyên nghiệp (do cá nhân, pháp nhân thông thường thực hiện). |
| Căn cứ tính đền bù |
Bảo lãnh có thù lao (theo Điều 364 BLDS 2015); Bảo lãnh không có thù lao. |
| Căn cứ cách thức thực hiện |
Bảo lãnh đối vật (bảo đảm bằng quyền đối với tài sản); Bảo lãnh đối nhân (bảo đảm bằng tư cách, uy tín, cam kết trách nhiệm). |
- Lược sử hình thành quy định về bảo lãnh:
- Thời kỳ phong kiến: Quy định sơ sài, ít phát triển do nền kinh tế kém phát triển và pháp luật chủ yếu bảo vệ quyền lực giai cấp thống trị.
- Thời kỳ Pháp thuộc: Chịu ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Napoleon, thể hiện qua Điều 1311 đến Điều 1322 Bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931) và Điều 1493 đến Điều 1511 Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật (1936).
- Giai đoạn 1991 đến nay: Đánh dấu bằng Điều 40, Điều 41 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 (chọn quy chế bảo lãnh liên đới); BLDS năm 1995 (11 điều, quy định mang tính đối vật tại khoản 2 Điều 366 khi buộc bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu); BLDS năm 2005 (11 điều, chuyển dần sang bản chất đối nhân nhưng còn lẫn lộn); BLDS năm 2015 (hoàn thiện bản chất đối nhân nhưng vẫn còn khoảng trống pháp lý).
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về bảo lãnh
Chương 2 phân tích chi tiết hệ thống quy phạm điều chỉnh quan hệ bảo lãnh theo BLDS năm 2015:
- Đối tượng của bảo lãnh: Là cam kết của bên bảo lãnh trước bên nhận bảo lãnh. Để bảo đảm cam kết, bên bảo lãnh phải thực hiện một công việc thay thế hoặc chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để xử lý thanh toán nghĩa vụ trả tiền.
- Phạm vi bảo lãnh: Theo Điều 336 BLDS năm 2015, phạm vi có thể là một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ (bao gồm tiền nợ gốc, tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt vi phạm, tiền bồi thường thiệt hại và lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác).
- Thời hạn và thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh:
- Thời hạn bảo lãnh: BLDS hiện hành không quy định trực tiếp; về nguyên tắc được xác định từ thời điểm giao dịch bảo lãnh có hiệu lực đến khi chấm dứt theo quy định pháp luật hoặc theo thỏa thuận.
- Thời điểm thực hiện nghĩa vụ: Được xác định theo hai trường hợp tại Điều 335: khi đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; hoặc khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ (xảy ra trước hoặc sau thời điểm nghĩa vụ chính đến hạn).
- Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong ba mối quan hệ:
- Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Mang tính đơn vụ; bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường nếu vi phạm; bên bảo lãnh có nghĩa vụ thực hiện đúng cam kết bằng tài sản của mình.
- Quan hệ giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh: Bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ chính trước hoặc song song tùy theo khả năng thanh toán.
- Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh: Tùy thuộc vào việc có hay không có thỏa thuận (quan hệ dịch vụ có phí bảo lãnh hoặc quan hệ hoàn lại chi phí đã thực hiện thay).
- Miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: Căn cứ Điều 341 BLDS năm 2015, phân tích ba trường hợp: miễn cho toàn bộ bên bảo lãnh (đồng nghĩa miễn cho bên có nghĩa vụ chính, trừ khi có thỏa thuận khác); miễn cho một trong nhiều người cùng bảo lãnh liên đới (những người còn lại vẫn phải chịu trách nhiệm đối với phần nghĩa vụ còn lại); và một trong những người nhận bảo lãnh liên đới miễn cho bên bảo lãnh.
- Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh: Điều chỉnh theo Điều 342 BLDS năm 2015 về trách nhiệm thực hiện thay và trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trả lãi chậm trả khi vi phạm nghĩa vụ bảo lãnh.
- Chấm dứt bảo lãnh: Căn cứ Điều 343 BLDS năm 2015 với 4 trường hợp: nghĩa vụ chính chấm dứt; bảo lãnh bị hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp khác; bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ; hoặc chấm dứt theo thỏa thuận của các bên.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bảo lãnh
Chương này đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại Tòa án thông qua các vụ án điển hình:
- Thực tiễn áp dụng pháp luật về căn cứ thực hiện nghĩa vụ: Phân tích Bản án số 148/2020/DS-PT ngày 09/11/2020 của TAND tỉnh An Giang (tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Th, ông Lê Tiến H và bà Tú A). Tòa án đã phân định chính xác thỏa thuận trả nợ thay là chuyển giao nghĩa vụ theo Điều 370 BLDS năm 2015 chứ không phải hợp đồng bảo lãnh theo Điều 335, do không phát sinh nghĩa vụ mới hay tư cách người bảo lãnh dự phòng.
- Thực tiễn về hình thức bảo lãnh: Phân tích Bản án số 221/2020/DS-PT ngày 28/12/2020 của TAND tỉnh Vĩnh Long (bà H cho chị Y vay 100 triệu đồng, bà H1 ghi vào mặt sau biên nhận chữ "Tôi chịu trách nhiệm"). Căn cứ khoản 3 Điều 43 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, Tòa án chấp nhận đây là cam kết bảo lãnh hợp pháp dưới dạng "hình thức cam kết khác", không bị vô hiệu dù hình thức sơ sài.
- Thực tiễn về phạm vi bảo lãnh: Phân tích Bản án số 03/2017/DS-PT của TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (chị L cho chị G vay tiền nhiều lần với sự bảo lãnh của chị H). Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai tư cách tố tụng của bà K và xác định sai phạm vi bảo lãnh khi buộc chị H chịu trách nhiệm với cả các khoản vay 300 triệu đồng không cam kết bảo lãnh. Tòa phúc thẩm đã hủy toàn bộ án sơ thẩm.
- Thực tiễn về trách nhiệm bảo lãnh liên đới: Phân tích Bản án số 30/2019/DS-PT ngày 13/09/2019 của TAND tỉnh Đồng Tháp (bà L cho vợ chồng anh CL vay 200 triệu đồng, ông N ký bảo lãnh và đưa 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Tòa án cấp sơ thẩm đã nhầm lẫn khi buộc bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh liên đới thực hiện nghĩa vụ. Ngoài ra, khóa luận dẫn chiếu các bản án số 3334/2009/DS-PT của TAND TP.HCM, Bản án 01/2007/DS-ST của TAND thị xã Châu Đốc và vụ án Công ty Anh Tuấn (vợ chồng ông Tân) để chỉ ra lỗi sai phổ biến của Tòa án khi gộp trách nhiệm liên đới giữa những người bảo lãnh cho các nghĩa vụ độc lập khác nhau.
- Những bất cập của BLDS năm 2015:
- Thiếu quy định bắt buộc về hình thức văn bản đối với hợp đồng bảo lãnh, dẫn đến khó khăn trong thu thập chứng cứ chứng minh ý chí đích thực.
- Chưa quy định độc lập một điều luật ghi nhận hệ thống quyền năng của bên bảo lãnh.
- Chưa xử lý trường hợp chấm dứt bảo lãnh khi hết thời hạn hiệu lực đối với các khoản vay được giải ngân trước ngày hết hạn nhưng đến hạn trả nợ sau ngày hết hạn.
- Quy định về miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh liên đới tại khoản 2 Điều 341 còn mâu thuẫn về cách phân chia phần nghĩa vụ hoàn lại giữa những người cùng bảo lãnh.
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thi hành:
- Hoàn thiện quy định về quyền của bên bảo lãnh: Bổ sung quy định về quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (khi bên được bảo lãnh đang khởi kiện bên nhận bảo lãnh; khi nghĩa vụ chính thay đổi làm thay đổi bản chất rủi ro; khi bên được bảo lãnh có đủ khả năng tài sản nhưng cố tình không trả và có thể cưỡng chế dễ dàng); bổ sung quyền tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
- Bảo vệ bên bảo lãnh: Quy định bên có quyền phải có nghĩa vụ công khai thông tin về giá trị thực của nghĩa vụ và năng lực tài chính của bên được bảo lãnh.
- Quy định chi tiết về hình thức, điều kiện năng lực tài chính và hậu quả pháp lý khi bên bảo lãnh chết hoặc giải thể.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về biện pháp bảo lãnh trong pháp luật dân sự, khẳng định bản chất đối nhân của chế định này trong BLDS năm 2015. Về mặt thực tiễn, công trình trích xuất và phân tích chi tiết 6 vụ việc/bản án thực tế (trong đó có các bản án cụ thể: Bản án số 148/2020/DS-PT của TAND tỉnh An Giang, Bản án số 221/2020/DS-PT của TAND tỉnh Vĩnh Long, Bản án số 03/2017/DS-PT của TAND huyện Phù Yên - Sơn La, Bản án số 30/2019/DS-PT của TAND tỉnh Đồng Tháp, Bản án số 3334/2009/DS-PT của TAND TP.HCM, Bản án số 01/2007/DS-ST của TAND thị xã Châu Đốc). Thông qua đó, tác giả đã chỉ ra 4 nhóm lỗi nghiệp vụ phổ biến trong hoạt động xét xử:
- Nhầm lẫn giữa quan hệ bảo lãnh với thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ theo Điều 370 BLDS.
- Xác định sai tư cách đương sự và mở rộng phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh vượt quá thỏa thuận ban đầu của các bên.
- Đồng nhất sai lệch tính liên đới giữa bên bảo lãnh với bên được bảo lãnh (buộc liên đới trả nợ thay vì thực hiện theo tính chất thứ cấp).
- Áp đặt trách nhiệm liên đới giữa những người bảo lãnh độc lập cho các phần nghĩa vụ khác nhau.
Về mặt đóng góp lập pháp, khóa luận đã kế thừa và cụ thể hóa các quan điểm nghiên cứu của TS. Nguyễn Hải Ngân để đề xuất bổ sung chế định về "Quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ" và "Quyền tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ" của bên bảo lãnh vào BLDS, đồng thời kiến nghị thiết lập nghĩa vụ minh bạch thông tin tài chính của bên nhận bảo lãnh nhằm thiết lập cơ chế bảo vệ hữu hiệu cho người thứ ba cam kết bảo lãnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khuôn khổ các quy định chung của pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử các giao dịch bảo lãnh dân sự thông thường tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam; công trình không nghiên cứu sâu các nghiệp vụ bảo lãnh chuyên ngành như bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín dụng hay bảo lãnh của Chính phủ. Hướng phát triển tiếp theo của đề tài là mở rộng phạm vi sang khảo sát sự tương thích giữa BLDS năm 2015 với Luật Các tổ chức tín dụng và các tập quán thương mại quốc tế (như Quy tắc thực hành thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu - URDG 758) trong việc xử lý các cam kết bảo lãnh độc lập và bảo lãnh vô điều kiện.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Kinh tế tham khảo khi thực hiện các công trình nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Đối với thực tiễn áp dụng pháp luật, Chương 3 của khóa luận là phần có giá trị tham khảo thiết thực đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và cán bộ pháp chế doanh nghiệp trong việc phân biệt các giao dịch bảo đảm đối nhân, xác định đúng tư cách đương sự, phạm vi nghĩa vụ và trách nhiệm liên đới trong quá trình giải quyết các tranh chấp hợp đồng bảo lãnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân tích bảo lãnh theo BLDS năm 2015 là biện pháp bảo đảm đối nhân hay đối vật?
Theo phân tích tại Chương 1, bảo lãnh trong BLDS năm 2015 thuần túy mang tính chất đối nhân (trái quyền). Bên nhận bảo lãnh chỉ có quyền yêu cầu đối với chính bên cam kết thực hiện thay nghĩa vụ chứ không được quyền ưu tiên thu hồi nợ trực tiếp từ một tài sản cụ thể xác định của bên bảo lãnh như các biện pháp đối vật (cầm cố, thế chấp).
2. Cam kết bảo lãnh ghi chữ "Tôi chịu trách nhiệm" ở mặt sau giấy vay tiền có hiệu lực pháp lý không?
Căn cứ khoản 3 Điều 43 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP và phân tích từ Bản án số 221/2020/DS-PT của TAND tỉnh Vĩnh Long tại Chương 3, cam kết ghi "Tôi chịu trách nhiệm" của người thứ ba vẫn được Tòa án công nhận là hợp đồng bảo lãnh hợp pháp dưới dạng "cam kết khác", miễn là thể hiện đúng ý chí cam kết trả nợ thay khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ.
3. Tòa án trong Bản án số 148/2020/DS-PT (TAND tỉnh An Giang) căn cứ vào đâu để bác bỏ quan hệ bảo lãnh?
Tòa án xác định việc bà Tú A thỏa thuận trả nợ thay cho ông H số tiền 100 triệu đồng là thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ theo Điều 370 BLDS năm 2015 chứ không phải bảo lãnh. Trong chuyển giao nghĩa vụ, người có quyền được yêu cầu trực tiếp người mới thực hiện nghĩa vụ mà không cần điều kiện bên có nghĩa vụ ban đầu vi phạm như trong quan hệ bảo lãnh.
4. Khóa luận đề xuất bổ sung những quyền năng phòng vệ nào cho bên bảo lãnh?
Tác giả đề xuất bổ sung hai quyền năng phòng vệ: (1) Quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ (khi bên được bảo lãnh đang khởi kiện bên nhận bảo lãnh, khi nghĩa vụ chính thay đổi bản chất rủi ro, hoặc khi bên được bảo lãnh có tài sản nhưng cố tình trốn tránh); và (2) Quyền tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ về tài sản khi bên bảo lãnh lâm vào tình trạng khó khăn khách quan.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Tiến Đức đã phân tích toàn diện chế định bảo lãnh theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, làm rõ bản chất đối nhân và vị trí pháp lý của người thứ ba trong quan hệ bảo đảm. Thông qua việc đối chiếu lý luận với thực tiễn xét xử nhiều bản án cụ thể, đề tài đã chỉ ra những khoảng trống pháp lý của Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng các sai sót thường gặp của Tòa án trong việc xác định phạm vi bảo lãnh và trách nhiệm liên đới. Các đề xuất sửa đổi bổ sung về quyền từ chối, quyền tạm hoãn và nghĩa vụ minh bạch thông tin mang tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho việc hoàn thiện khung pháp lý về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.