CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẮT ĐẦU LẠI THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện trong Pháp luật dân sự Việt Nam Khi giả thiết quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và tranh chấp xảy ra, bất kỳ ai cũng có xu thế tìm kiếm giải pháp cho việc đòi lại quyền lợi đó. Vấn đề đặt ra là liệu hành vi giành lại quyền lợi bị cho là bị xâm phạm bởi một chủ thể khác có thể được thực hiện trong bất kỳ thời điểm nào? Tất nhiên quyền được hành động trong chừng mực quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi chủ thể luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Do đó, trên phương diện quyền, điều này có thể được thực hiện ở bất cứ thời điểm nào. Nhưng nếu điều này được cho phép thì trật tự xã hội, sự ổn định trong các quan hệ xã hội là một bài toán khó. Vì lý do đó mà thời hiệu nói chung và thời hiệu khởi kiện nói riêng được hình thành như là một phương tiện, nhằm ổn định tình trạng hiện hữu của các quan hệ xã hội sau một thời gian nhất định. Mỗi phương thức hành động bảo vệ quyền có một giới hạn nhất định của nó, nhất là khi con đường tố tụng tại Tòa án được lựa chọn như một cách bảo vệ quyền lợi.
Vì hành vi yêu cầu Tòa giải quyết tranh chấp về quyền lợi bị “giới hạn” bởi thời hiệu khởi kiện, do việc kiện tụng không thể được hành xử vô hạn định mà cần phải được thực hiện trong thời hạn được pháp luật ấn định. Việc không hạn định thời gian thực hiện việc kiện có thể gây nên những xáo trộn, làm thiệt hại cho nền kinh tế xã hội. Ngoài ra, nếu người có quyền để vụ việc trôi qua quá lâu mới thực hiện việc kiện thì người có nghĩa vụ sẽ ở vị thế bất lợi và khó có thể đưa ra được chứng cứ để biện hộ cho mình1. Thời hiệu khởi kiện cho phép chủ thể có quyền khởi kiện trong thời hạn luật định, nhưng đó cũng là ranh giới hạn định quyền khởi kiện khi thời hiệu khởi kiện đã hết.
Theo nguyên tắc này, thời hiệu khởi kiện hết kéo theo quyền khởi kiện đúng nghĩa chấm dứt. Dẫn đến hệ quả khó khăn cho chủ thể có quyền lợi của họ bị xâm phạm, khi các cách thức bảo vệ quyền không qua con đường Tòa án không có khả thi. 1 Trần Anh Tuấn (2011), “Thời hiệu dân sự - Nhìn từ góc độ lịch sử và so sánh”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6, tr 1. 11 Mặc dù, Tòa án công nhận vụ việc hết thời hiệu khởi kiện chỉ có ý nghĩa đối với việc chấm dứt quyền yêu cầu giải quyết vụ tranh chấp bằng con đường Tòa án mà không bao giờ làm chấm dứt nghĩa vụ các bên trong quan hệ đang có tranh chấp và cũng không tước đoạt quyền lợi hợp pháp của một bên trong quan hệ tranh chấp đó2.
Nhưng nếu Tòa án không thể can thiệp bởi lý do thời hiệu, dường như các bên khó lòng tìm được giải pháp nào tốt hơn trong việc giải quyết tranh chấp, bởi trước đó các bên đã không tìm được tiếng nói chung cho tranh chấp. Trong trường hợp này, quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện là một cứu cánh, khi khôi phục lại quyền khởi kiện tưởng chừng như đã mất, tạo thêm cơ hội đòi lại quyền lợi chính đáng của các chủ thể. Tầm quan trọng của việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện là không thể chối bỏ, nhưng để có được một cái nhìn thấu đáo về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện thật sự không đơn giản. Cho đến nay, khái niệm về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện chưa được pháp điển hóa chính thức trong luật.
Bộ luật dân sự năm 2005 quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện tại Điều 162 và được kế thừa tại Điều 157 BLDS 2015 theo hướng liệt kê các căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, không nêu khái niệm đã tạo ra một số trở ngại khi áp dụng quy định này khi cách hiểu và vận dụng pháp luật chưa đồng nhất. Để làm rõ khái niệm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện không thể không xem xét đến khái niệm nền tảng, cơ bản đó là thời hiệu khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện và bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thời hiệu khởi kiện thì mới có quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, đó là sự bổ sung làm cho thời hiệu khởi kiện linh động hơn trong thực tiễn tố tụng bảo vệ quyền của đương sự.
Về phương diện ngôn ngữ, theo cách lý giải của Từ điển tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam năm 1992 “khái niệm thời hiệu được hiểu là khoảng thời gian có hiệu lực trong một trường hợp cụ thể”. Về học lý, thời hiệu đã được giáo sư Vũ Văn Mẫu và giáo sư Lê Đình Chân đề cập trong cuốn Danh từ và tài liệu Dân luật và hiến luật năm 1968, theo đó “thời hiệu được hiểu là thời hạn do luật ấn định có hiệu lực biến sự chiếm hữu một tài sản thành quyền sở hữu hoặc tiêu diệt món nợ của đương sự”. 2 Nguyễn Thị Hoài Phương (Chủ nhiệm), Báo cáo kết quả nghiên cứu để tài nghiên cứu khoa học cấp bộ - Thời hiệu khởi kiện vụ việc dân sự những vấn đề lý luận và thực tiễn, TP.Hồ Chí Minh, 2007, tr 75. 12 Theo nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh: “Thời hiệu là một phương chước để một người có thể thủ đắc bất động sản bằng cách chấp hữu trong một thời hạn, hoặc để cho con nợ được tự giải thoát khỏi bị chủ nợ khởi tố nếu đã quá thời hạn luật định không hành xử tố quyền”.
Về phương diện pháp lý, “thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự”3. Nghiên cứu từ góc độ lịch sử, vấn đề thời hiệu không hoàn toàn mới trong Pháp luật dân sự Việt Nam4. Sự không hoàn toàn mới về cách nhìn nhận và quy phạm hóa thời hiệu thể hiện trong Pháp luật Việt Nam thời kỳ trước. Theo những tài liệu về cổ luật Việt Nam trước đây thể hiện thời hiệu dân sự đã từng được ghi nhận dưới thời Lý5 – Trần6 và dưới triều Lê7.
Với các tiếp cận nghiên cứu hệ thống, thời hiệu khởi kiện lại là vấn đề luôn “mới” trong tranh luận pháp lý, kể cả trong tư duy nhận thức và trong áp dụng pháp luật. Một mặt do tính phức tạp, biến đổi theo thời gian về cách hiểu, mặt khác do thời hiệu khi vận dụng thường gắn liền và liên quan đến nhiều quy định pháp luật khác. Thời hiệu là một cách thức, biện pháp làm chủ thể có được hoặc mất đi quyền của mình, thông qua một khoảng thời gian nhất định với những điều kiện do pháp luật quy định8. Mang ý nghĩa là phương tiện mang lại hay triệt tiêu quyền, không 3 Điều 154 BLDS 2005.
4 Cổ luật Việt Nam đã từng đề cập đến vấn đề này. Chẳng hạn, theo Điều 588 Bộ luật Hồng Đức: “Mắc nợ quá hạn mà không trả thì xử tội trượng, tùy theo nặng hay nhẹ; nếu cự tuyệt không chịu trả, tì xử biếm hai tư, bồi thường gấp đôi. Quà niên hạn mà không đòi thì mất nợ (hạn định là đối với người trong họ thì 30 năm, người ngoài thì hạn 20 năm)”, (trích trích Đỗ Văn Đại (2014), Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, NXb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 2, tr.
5 “Tháng giêng năm Đại Định thứ ba (1142), vua Lý Anh Tông (1128 – 1175) khi ban hành quy định về việc kiện tụng và chuộc lại ruộng đất đã định rằng “Các ruộng cày cấy đã đem cầy cấy có thể chuộc lại trong một hạn là hai mươi năm. Các vụ tương tranh về điền thổ không thể xin vua xét xử sau một thời hạn 5 hay 10 năm; Phàm vườn ruộng bỏ hoang, đã có người cầy cấy, người chủ chỉ có quyền đòi lại trong hạn một năm. Trái lệnh này, sẽ phải phạt 80 trượng; Các ruộng cày cấy hoặc bỏ hoang, đã có văn tự bán đứt, không thể chuộc lại được – Ai trái lệnh cũng phải phạt cùng một tội”, (Trần Anh Tuấn (2011), tlđd số 1, tr 1). 6 “Năm 1299, Vua Trần Anh Tông có chiếu định rằng ai đã bán ruộng đất và gia nhân làm nô tỳ trong hai năm 1290, 1291 thì cho chuộc về, để quá hạn năm 1299 thì không cho chuộc” (Lê Minh Tâm, Vũ Thị Nga, Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb CAND, 2009, tr.
7 Điều 387 Bộ luật Hồng Đức “Nếu quá niên hạn mà xin chuộc thì không được (niên hạn là 30 năm). Trái lẽ mà cố cưỡng đi kêu, thì phải phạt 50 roi, biếm một tư” (Cao Nãi Quang, Nguyễn Sĩ Giác, Vũ Văn Mẫu, Quốc Triều Hình luật, Nxb Nguyễn Văn Của, 1956). 8 Đỗ Văn Đại, Nguyễn Ngọc Hồng Phương (2015), “Về các loại thời hiệu trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9, tr 4. 13 chỉ riêng có ở Việt Nam, thời hiệu từ lâu cũng đã được quy định trong pháp luật của một số nước trên thế giới như là một công cụ hữu hiệu cho quản lý trật tự xã hội, đảm bảo quyền cho người dân.
Chẳng hạn, thời hiệu đã được quy định từ lâu trong Luật La Mã cổ đại và tiếp tục phát triển dưới thời vua Justinian9. Dưới thời La Mã cổ đại, thuật ngữ “thời hiệu” (longi temporis praescriptio) được sử dụng với một nghĩa rộng, bao gồm loại thời hiệu “tích tụ, hưởng các lợi ích” và bị mất đi, bị tiêu diệt các quyền hưởng lợi ích”10. Thời hiệu theo thời gian không những không mất đi giá trị của nó, mà ngày càng được nhiều các quốc gia trên thế giới ghi nhận. Trong quy định pháp luật hầu hết các nước thống nhất thời hiệu theo nguyên tắc thời gian và quyền dùng để xác định một khoảng thời gian nhất định có ý nghĩa cho việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong mối quan hệ pháp luật, tuy hình thức thể hiển có thể không giống nhau.
Những quốc gia theo truyền thống Thông luật thường quy định vấn đề thời hiệu trong một đạo luật riêng, như: Anh có đạo luật về thời hiệu năm 1939, sửa đổi bổ sung năm 198011.