Chương 1. Những vấn đề lí luận và pháp luật về trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần. Thực trạng giải quyết trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG TỔN THẤT VỀ TINH THẦN 1.
Khái quát trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần 1. Khái niệm, đặc điểm tổn thất về tinh thần Thứ nhất, khái niệm TTVTT: “Theo Từ điển Tiếng Việt thì “tổn thất” là “sự mất mát, hư hao, thiệt hại lớn”1 và “tinh thần” là “những ý nghĩ, tình cảm, những hoạt động thuộc về nội tâm của con người”2. Do đó, hiểu theo nghĩa chung nhất thì TTVTT là sự đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, sự thương tiếc, sự đau đớn, dằn vặt nội tâm mà con người phải chịu đựng. Nếu hiểu theo nghĩa này, thì chỉ có cá nhân – một con người cụ thể mới có TTVTT.
Chính vì pháp luật chưa có một qui định cụ thể định nghĩa thế nào là TTVTT, cho nên khái niệm này được nhiều tác giả nghiên cứu quan niệm khác nhau. Và theo quan điểm của một tác giả, thì TTVTT được hiểu theo nghĩa rộng hơn là “sự tổn thất về tình cảm, tâm trạng của con người, sự tín nhiệm của xã hội đối với pháp nhân và các chủ thể khác mà biểu hiện là việc cá nhân phải chịu những đau đớn, lo lắng, buồn khổ về tinh thần hay việc pháp nhân hay các chủ thể khác phải gặp nhiều khó khăn trở ngại trong các hoạt động thường ngày do bị làm suy giảm tôn trọng, tín nhiệm của xã hội”3. Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng hơn thì ngoài cá nhân, các tổ chức cũng tồn tại TTVTT khi có hành vi xâm phạm. Theo điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của Bộ luật Dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP) thì TTVTT chính là sự đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu lầm… khi cá nhân, tổ chức bị xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ hai, đặc điểm TTVTT: + TTVTT là thiệt hại phi vật chất, không mang tính chất kinh tế và tài sản, không thể tính thành tiền, không thể cân, đong, đo đếm; + TTVTT để lại những vết hằn tâm lí rất sâu sắc, khó phai mờ trong kí ức của người bị thiệt hại. Nó có thể gây nên những đảo lộn trong tâm lí, đời sống của người bị thiệt hại; 1. Nguyễn Văn Xô (chủ biên) (2008), Từ điển Tiếng Việt, NXB Thanh niên (tái bản lần V), tr. Nguyễn Văn Xô (chủ biên), tlđd (01), tr.
Trích theo Nguyễn Thị Thơm (2011), Trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần trong pháp luật Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr. 1 + TTVTT phát sinh từ sự xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể. Sự xâm phạm các quyền này có thể từ hành vi của con người, từ nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng… (gọi chung là do tài sản gây ra); + Khi có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, có thể gây ra thiệt hại về vật chất, và từ đó dẫn đến TTVTT.
Tuy nhiên, “TTVTT có thể tồn tại khi không có thiệt hại về vật chất”4. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần Thứ nhất, khái niệm trách nhiệm BTTTVTT Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong những quyền dân sự của cá nhân, tổ chức được pháp luật công nhận và bảo vệ. Khi quyền này bị xâm phạm thì họ có thể tự mình bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp dân sự được qui định tại Điều 9 BLDS 2005. Trong đó, biện pháp buộc bồi thường thiệt hại là biện pháp bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm.
Theo Điều 307 BLDS 2005 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường bù đắp TTVTT. Điều luật trên đã qui định cụ thể khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất tại khoản 2. Tuy nhiên, trách nhiệm BTTTVTT chưa được định nghĩa cụ thể mà chỉ qui định chung chung về căn cứ phát sinh, cách thức mà chủ thể bị thiệt hại yêu cầu chủ thể gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm do hành vi xâm phạm của mình: “Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp TTVTT cho người bị thiệt hại”5. Trong Chương XXI về trách nhiệm BTTHNHĐ, BLDS 2005 dành một số điều luật qui định về các trường hợp được bồi thường khoản tiền bù đắp TTVTT cho người bị thiệt hại khi người gây thiệt hại có hành vi xâm phạm đến sức khoẻ (Điều 609); tính mạng (Điều 610); danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 611), thi thể (Điều 628).
Do đó, có thể xem trách nhiệm BTTTVTT là một nội dung của trách nhiệm BTTHNHĐ. Như vậy, có thể hiểu, trách nhiệm BTTTVTT là trách nhiệm dân sự, ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, thì còn phải bồi thường 4. Xem khoản 3 Điều 307 BLDS 2005. 2 một khoản tiền để bù đắp TTVTT do hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, thi thể của chủ thể khác; nhằm hạn chế, khắc phục một phần TTVTT cho người bị thiệt hại.
Thứ hai, đặc điểm trách nhiệm BTTTVTT: + Là một nội dung của trách nhiệm BTTHNHĐ; + Trách nhiệm này phát sinh khi có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, thi thể của cá nhân, tổ chức và gây ra những TTVTT; + Trách nhiệm BTTTVTT không thể khôi phục lại tình trạng ban đầu của tinh thần, tức là không thể khắc phục toàn bộ thiệt hại về tinh thần; + Trách nhiệm BTTTVTT bao gồm: buộc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường một khoản tiền để bù đắp TTVTT. Sơ lược tiến trình phát triển các qui định pháp luật về trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần ở Việt Nam 1. Trước năm 1945 Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam trải qua các giai đoạn, từ nhà nước đầu tiên (nhà nước Văn Lang – Âu Lạc) đến các nhà nước phong kiến qua các thời kì như Ngô – Đinh – Tiền Lê, Lý – Trần – Hồ, pháp luật có sự phát triển cả về hình thức lẫn nội dung. Bên cạnh các tập quán, luật tục thì có sự xuất hiện của luật thành văn với các qui định phù hợp điều chỉnh các quan hệ xã hội mới, nhưng chủ yếu điều chỉnh lĩnh vực hình sự.
Về lĩnh vực dân sự, pháp luật chủ yếu điều chỉnh một số lĩnh vực liên quan đến quyền sở hữu, hợp đồng, thừa kế, hôn nhân gia đình. Nhìn chung, không có qui định về BTTTVTT trong thời kì này. Tuy nhiên, đến thời nhà Lê, nhà Nguyễn (từ năm 1428 đến năm 1884), đã có các văn bản pháp luật qui định trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Điển hình là các qui định tại Lê triều Hình luật (còn gọi là Quốc triều Hình luật hay Luật Hồng Đức) thời nhà Lê và Hoàng Việt luật lệ dưới thời nhà Nguyễn.
Khi nghiên cứu Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ, các qui định đều không có sự phân định rõ ràng giữa hình luật và dân luật. Chính vì vậy, chế định trách nhiệm dân sự qui định rất tản mạn và không đầy đủ. Tuy nhiên, trong hai Bộ luật đều đưa ra được hai vấn đề chính là: các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm dân sự và việc bồi thường thiệt hại. Đối với chế định bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, cả hai Bộ luật trên đều không đề cập 3 đến thuật ngữ “TTVTT”, về mức bồi thường, các trường hợp được bồi thường TTVTT khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác, nhưng thông qua một số điều luật cụ thể, đã gián tiếp thừa nhận và áp dụng việc BTTTVTT.
Ví dụ, trong Quốc triều Hình luật, Điều 472 qui định trường hợp đánh các quan chức bị thương, thì ngoài tiền bồi thường thương tích, người gây thiệt hại còn phải đền tiền tạ. Tương tự, Điều 473 qui định về các trường hợp lăng mạ quan chức, Điều 474 qui định về các trường hợp đánh người trong hoàng tộc… cũng đều đưa ra một khoản tiền tạ ngoài việc phải chịu một khoản tiền phạt6. “Tạ” là tỏ lòng xin lỗi một cách trân trọng đối với người mà mình đã mang đến cho họ điều không may. Thực chất “tiền tạ” là “khoản tiền bù đắp TTVTT cho các vị quan lại phong kiến, tuỳ theo địa vị xã hội của họ do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của họ bị xâm phạm”7.
Ở đây, pháp luật phong kiến đã tạo nên sự bất bình đẳng trong xã hội. Đối với những thiệt hại về vật chất thì pháp luật qui định rõ ràng và được áp dụng trong mọi trường hợp gây thiệt hại, về đối tượng áp dụng không có sự phân biệt địa vị xã hội. Nhưng đối với TTVTT thì khi bị xâm phạm, chỉ có một số đối tượng được bồi thường khoản tiền tạ (vua, quan lại phong kiến) mà không phải tất cả người bị thiệt hại nào cũng được bồi thường. Ngoài ra, sự bồi thường do gây thiệt hại về tinh thần được dự liệu chung cho tất cả mọi người trong trường hợp từ hôn, nghĩa là đã nhận đồ sính lễ gả con gái rồi lại thay đổi ý kiến, hoặc nhà trai đã mang đồ sính lễ đến dạm hỏi rồi mà thay đổi ý kiến thì người thay đổi ý kiến không kết hôn nữa phải bồi thường thiệt hại về danh dự cho người kia (Điều 315 Quốc triều Hình luật, Điều 94 Hoàng Việt luật lệ)8.