phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung Luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1: Lý luận chung về bảo đảm pháp lý TTHS đối với việc thực hiện quyền con ngƣời đối với bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. - Chƣơng 2: Thực trạng bảo đảm pháp lý TTHS đối với việc thực hiện quyền con ngƣời đối với bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Bình Thuận. - Chƣơng 3: Tăng cƣờng bảo đảm pháp lý TTHS đối với việc thực hiện quyền con ngƣời đối với bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. 10 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM PHÁP LÝ TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƢỜI ĐỐI VỚI BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Khái niệm quyền con ngƣời của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Quyền con ngƣời (human rights) là giá trị cao quý, kết tinh từ văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phƣơng tiện chung của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của con ngƣời. Nó không còn là nhận thức mà đƣợc thể hiện bằng quy phạm pháp lý đƣợc các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hƣớng đi tất yếu của xã hội loài ngƣời cũng nhƣ hình thành các cơ chế bảo đảm để quyền con ngƣời đƣợc thực thi trên thực tế. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con ngƣời, theo nghiên cứu của Liên Hợp Quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con ngƣời đã đƣợc công bố. Mỗi định nghĩa tiếp cận từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhƣng không định nghĩa nào bao hàm đƣợc tất cả các thuộc tính của quyền con ngƣời.
Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con ngƣời thƣờng đƣợc trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa này, quyền con ngƣời là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự đƣợc phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con ngƣời. Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác cũng thƣờng đƣợc trích dẫn, theo đó, quyền con ngƣời là những sự đƣợc phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.; đều có 11 ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con ngƣời. Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên (natural rights).
[5] Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con ngƣời do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhƣng xét chung, quyền con ngƣời đƣợc hiểu là những đặc quyền vốn có tự nhiên của con ngƣời và chỉ con ngƣời mới có; quyền tự nhiên vốn có đó khi đƣợc pháp luật ghi nhận và điều chỉnh, thì sẽ trở thành các quyền con ngƣời. Quyền con ngƣời là sự thống nhất giữa hai yếu tố khách quan và chủ quan đƣợc ghi nhận trong pháp luật của mỗi quốc gia và thỏa thuận pháp lý quốc tế. [5] Nhƣ vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con ngƣời cũng đƣợc xác định nhƣ là những chuẩn mực đƣợc cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con ngƣời, cho tất cả mọi ngƣời.
Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới đƣợc bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tƣ cách là một con ngƣời. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con ngƣời là những giá trị cao cả cần đƣợc tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử. Liên quan đến khái niệm trên, cũng cần lƣu ý rằng thuật ngữ human rights trong tiếng Anh có thể đƣợc dịch là quyền con ngƣời (theo tiếng thuần Việt) hoặc nhân quyền (theo Hán - Việt). Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con ngƣời” [59, tr.
Nhƣ vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, đây là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn toàn có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn về quyền con ngƣời. Trong khoa học pháp lý, căn cứ vào nội dung của nó, quyền con ngƣời đƣợc chia thành các nhóm cơ bản sau đây: (1) Các quyền chính trị bao gồm quyền tham gia quản lý Nhà nƣớc và thảo luận các vấn đề chung của cả nƣớc, 12 quyền bầu cử và ứng cử, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngƣỡng, quyền lập hội, quyền đƣợc thông tin, quyền biểu tình, quyền bình đẳng nam nữ, quyền khiếu nại, tố cáo; (2) Các quyền dân sự (các quyền tự do cá nhân) bao gồm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về chỗ ở, quyền đƣợc pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, quyền đƣợc bảo đảm an toàn và bí mật về thƣ tín, điện thoại, điện tín, quyền tự do đi lại và cƣ trú; (3) Các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm quyền học tập, lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền phát minh, sáng chế, quyền đƣợc bảo vệ sức khỏe, quyền đƣợc bảo hộ về hôn nhân, gia đình, các quyền của các đối tƣợng đặc biệt nhƣ thƣơng binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, ngƣời già, trẻ em, ngƣời tàn tật không nơi nƣơng tựa; Ngoài ra, căn cứ vào mức độ điều chỉnh của pháp luật, quyền con ngƣời đƣợc phân thành các quyền cơ bản và các quyền pháp lý khác. Quyền con ngƣời, quyền cơ bản của công dân (hay quyền hiến định) là các quyền quan trọng nhất, cơ bản nhất thể hiện mối quan hệ cơ bản nhất giữa Nhà nƣớc và công dân đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp, làm cơ sở cho việc cụ thể hóa các quyền pháp lý khác. Quyền pháp lý khác là sự cụ thể hóa các quyền con ngƣời, quyền cơ bản của công dân trong các lĩnh vực pháp lý khác nhau đƣợc ghi nhận trong các văn bản pháp luật cụ thể.
Ví dụ: quyền con ngƣời trong lĩnh vực hình sự, quyền con ngƣời trong lĩnh vực hành chính, quyền con ngƣời trong lĩnh vực lao động. Các quyền con ngƣời cụ thể này đƣợc cụ thể hóa trên cơ sở các quyền cơ bản và không trái với các quyền cơ bản đƣợc Hiến pháp quy định, thể hiện sự nhất quán của Nhà nƣớc trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công dân. Quyền con ngƣời trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể đƣợc quy định phụ thuộc vào tính chất của ngành luật và chức năng của Nhà nƣớc trong lĩnh vực đó. 13 Quyền con ngƣời trong TTHS là những quyền chỉ dành cho con ngƣời khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà nhà nƣớc có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện trên thực tế.
TTHS là trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật, bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan nhà nƣớc khác và tổ chức xã hội, góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật TTHS. Do vậy, xét ở phƣơng diện quyền con ngƣời trong TTHS cho thấy, đây là nơi quyền con ngƣời chịu sự tác động rất lớn từ các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự. Quyền con ngƣời trong TTHS đƣợc thể hiện ở hai khía cạnh: (1) Đƣa ngƣời phạm tội ra xử lý trƣớc pháp luật, qua đó bảo vệ quyền con ngƣời nói chung; (2) Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng phải bảo đảm quyền con ngƣời không chỉ của bị cáo mà còn của những ngƣời tham gia tố tụng khác, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ xâm phạm quyền con ngƣời từ phía những ngƣời tiến hành tố tụng. Theo pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành, xét xử sơ thẩm đƣợc xác định là giai đoạn trung tâm của quá trình giải quyết một vụ án hình sự.
Trong giai đoạn này, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do CQĐT, VKS thu thập trong quá trình điều tra, truy tố đều đƣợc xem xét một cách công khai tại phiên toà. Quyền và nghĩa vụ của ngƣời tiến hành tố tụng và ngƣời tham gia tố tụng đƣợc thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất, những ngƣời tiến hành tố tụng và ngƣời tham gia tố tụng đƣợc nghe trực tiếp lời khai của nhau, đƣợc tranh luận chất vấn những điều mà tại CQĐT và VKS họ không có điều kiện thực hiện. Trên cơ sở đó Tòa án ra phán quyết về tội phạm, hình phạt và các vấn đề có liên quan. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đƣợc xem là đỉnh cao của 14 quyền tƣ pháp, đây cũng là nơi quyền con ngƣời rất dễ bị xâm phạm và việc xâm phạm quyền con ngƣời thƣờng để lại hậu quả rất lớn cho xã hội.
Bị cáo là là ngƣời đã bị Toà án quyết định đƣa ra xét xử, tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đƣa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bị cáo là trung tâm của quá trình xét xử vụ án hình sự, xét xử sơ thẩm là giai đoạn trung tâm, do vậy quyền con ngƣời của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cũng là vấn đề trung tâm của quyền con ngƣời trong TTHS. Hiện nay, việc hiểu và đƣa ra khái niệm về quyền con ngƣời của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chƣa nhiều. Tác giả cho rằng, quyền con ngƣời của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự do pháp luật TTHS quy định trên cơ sở phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con ngƣời, gồm các nhóm quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản… và các nhóm quyền bảo đảm đƣợc xét xử bởi Tòa án độc lập, xét xử bình đẳng và đúng pháp luật.