phần mở đầu của bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc đã nêu rõ “sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ, ở quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ” và khẳng định, các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc cam kết “thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, văn hóa và nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Liên Hiệp Quốc đã thông qua Tuyên ngôn toàn thế giới năm 1948về nhân quyền gồm 30 điều, ghi nhận tất cả các quyền con người trên các lĩnh vực. Có thể nói đâylà văn kiện đầu tiên khẳng định các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người được ghi nhận trong Hiến chương, thể hiện các quyền tự do của con người một cách cụ thể liên quan đến nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dân sự. Tuyên ngôn toàn thế giới là tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho quyền con người được tôn trọng và bảo đảm thực hiện.
Từ đó, quyền con người đã được thể hiện cụ thể hóa trong Công ước quốc tế 10 về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966). Và theo chúng tôi, khái niệm quyền con người được hiểu là "quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”. Việc phân định đúng, sai, hợp lý và không hợp lý của các học thuyết nêu trên là không đơn giản do chúng liên quan đến phạm vi rộng lớn như triết học, chính trị, xã hội, đạo đức pháp lý. giữa cá nhân với xã hội, giữa tính nhân loại với tính giai cấp, giữa các giá trị đạo đức với pháp luật, giữa quan hệ quốc tế với lợi ích quốc gia, giữa khả năng và nhu cầu tự nhiên.
Do đó, có thể cho rằng quyền con người có những đặc trưng, tính chất cơ bản sau: Một là, tính phổ biến thể hiện ở chỗ quyền con người là những giá trị bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào. Những giá trị của quyền con người đều gắn với mỗi con người cụ thể nhưng vừa mang tư cách là cá nhân, vừa mang với tư cách là thành viên của xã hội. Vì vậy, quyền con người vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng. Hai là, tính không thể chuyển nhượng thể hiện ở chỗ, các quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả nhà nước.
Mọi giới hạn, hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do pháp luật quy định và chỉ nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng, tương xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác. Vì vậy, quyền con người được xã hội hóa bằng cách thể chế hóa thành thành pháp luật quy định các quyền năng cụ thể; bên cạnh đó là những nghĩa vụ tôn trọng quyền con người của cá nhân khác trong xã hội. Ghi nhận quyền con người, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan phù hợp với chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử, dân trí cụ thể. Chỉ có thông qua pháp luật thì các giá trị của con người với tư cách là tự nhiên và xã hội 11 mới trở thành quyền được xác định và mới bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tiễn.
Ba là, tính không thể phân chia thể hiện ở chỗ các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào, bởi vì tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người.Tuy nhiện, tùy bối cảnh và những đối tượng cụ thể, có thể ưu tiên thực hiện một số quyền con người nhất định như trong thiên tai, dịch bệnh đe dọa thì quyền ưu tiên thực hiện là được chăm sóc y tế, hoặc cần có những quyền đặc biệt cho phụ nữ, trẻ em. do họ là nhóm yếu thế. Điều này không có nghĩa các quyền ưu tiên được thực hiện có giá trị cao hơn mà các quyền đó có nguy cơ bị đe dọa hoặc bị vi phạm nhiều hơn so với quyền khác. Bốn là, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Ví dụ, một người không được hưởng quyền học tập, hậu quả là bị mù chữ hoặc văn hóa thấp sẽ khó có thể có nghề nghiệp tốt, thu nhập cao và khó có thể có cơ hội tham gia và thăng tiến trong bộ máy nhà nước. Căn cứ vào tính chất, nội dung của quyền con người có thể chia thành các nhóm cơ bản sau đây: - Quyền chính trị như quyền tham gia quản lý Nhà nước và thảo luận các vấn đề chung của cả nước, quyền bầu cử và ứng cử, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền lập hội, quyền được thông tin, quyền biểu tình, quyền bình đẳng nam nữ, quyền khiếu nại, tố cáo; - Quyền dân sự như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về chỗ ở, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, quyền được 12 bảo đảm an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín, quyền tự do đi lại và cư trú; - Quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm quyền học tập, lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền phát minh, sáng chế, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được bảo hộ về hôn nhân, gia đình, các quyền của các đối tượng đặc biệt như thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người già, trẻ em, người tàn tật không nơi nương tựa; Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người có nhiều chuyên gia, cơ quan nghiên cứu nhưng cũng không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, xét chung thì quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Bên cạnh các khái niệm trên, ở Việt Nam còn hay sử dụng thuật ngữquyền con người là nhân quyền (theo Hán – Việt). Cả hai đều có nội hàm như nhau và tương ứng với thuật ngữ “Human rights” trong tiếng Anh được dịch là quyền con người. Theo Đại từ điển Tiếng Việt,“nhân quyền” chính là “quyền con người” được hiểu chung là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì con người sẽ không thể sống như một con người. Quyền con người được cấu thành bởi hai yếu tố: một là những đặc quyền vốn có tự nhiên của con người và chỉ con người mới có; hai là quyền tự nhiên vốn có đó khi được pháp luật ghi nhận và điều chỉnh.
Quyền con người là sự thống nhất giữa hai yếu tố khách quan và chủ quan được ghi nhận trong pháp luật của mỗi quốc gia và pháp luật quốc tế. Bảo đảm quyền con người Trong nghiên cứu cho thấy giữa quyền con người vàbảo đảm quyền con người có mối liên hệ rất biện chứng với nhau, chúng tác động lên nhau rất lớn; việc bảo đảm quyền con người tác động trực tiếpvà mang tính quyết định đến việc thực hiện các quyền con người khác. Mất quyền con người là mất tất cả các quyền khác như quyền chính trị, quyền bầu cử, quyền lập hội; quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại, quyền lao động, quyền học tập. Bên cạnh đó, các quyền của con người cũng 13 phải được bảo đảm ngang bằng nhau, không phân biệt quyền nào quan trọng hơn quyền nào.
Liên Hiệp Quốc đã thông qua Tuyên ngôn về những người bảo vệ nhân quyền ngày 09/12/1998: “Tuyên ngôn về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, nhóm và tổ chức xã hội trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và tự do cơ bản được thừa nhận rộng rãi”. Đây là văn kiện đầu tiên của Liên Hiệp Quốc thừa nhận vai trò quan trọng, tính chính đáng trong hoạt động bảo đảm quyền con người, bảo vệ nhân quyền và những yêu cầu với cộng đồng quốc tế và từng quốc gia. Bảo đảm quyền con người không những vừa là quyền vừa là trách nhiệm của mọi cá nhân trong xã hội mà còn có vai trò của nhà nước là chủ thể có trách nhiệm chính trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyềncon người bằng cách tạo ra các cơ chế phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nhà nước nhằm bảo đảm quyền con người được tốt hơn trong thực tế. Trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, con người được đặt vào vị trí trung tâm trong mọi chính sách kinh tế, xã hội và được tạo mọi điều kiện phát triển.
Hiến pháp năm 2013 đã dành Chương 2 với 36 điều quy định về quyền con người, quyền công dân. Về vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân tại Điều 14 Hiến pháp quy định:“Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Như vậy quyền con người đã được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật.
Khái niệm người bị tạm giữ và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ 1.