chương 1 của luận văn, tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề về lý luận về KNPT VAHS như: Khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa KNPT; nhiệm vụ, nội dung của KNPT. Đồng thời, luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về KNPT hình sự đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực của xét xử cấp sơ thẩm VAHS giai đoạn trước khi có Bộ luật TTHS 1988 và giai đoạn từ 1988 đến trước khi Bộ luật TTHS 2015 có hiệu lực. Đây là những nội dung, cơ sở, tiền đề quan trọng để tác giả đi vào thực hiện các nội dung ở Chương 2 của luận văn. 18 Luan van CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH 2.
Quy định của pháp luật hiện hành về kháng nghị phúc thẩm hình sự Quy định về KNPT là “những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của bộ luật này”. Đây là một quy định mang tính khái quát. Như vậy, những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là những quyết định nào? Xét về nội dung, những quyết định của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là quyết định giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm “Những quyết định hành chính tư pháp nhằm đảm bảo hoạt động đúng đắn của trình tự phúc thẩm ,“không định đoạt việc giải quyết vụ án” thì không phải là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm”. Hiện nay, BLTTHS 2015 quy định một số quyết định là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm như sau: Quyết định khởi tố vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm; quyết định của Tòa án về việc áp dụng bắt buộc biện pháp chữa bệnh; quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện1.
Theo chúng tôi, quyết định này không quyết định, định đoạt việc giải quyết vụ án nên để không kéo dài thời gian tố tụng và thời gian giải quyết vụ án không nên đưa những quyết định này là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, cụ thể: 2. Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự Thẩm quyền chi tiết: “Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp huyện kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện; Tòa án tự mình khởi tố một vụ án và 19 Luan van rồi lại tự mình xét xử vụ án – điều này sẽ dẫn đến một hệ quả như sau: Nếu có dấu hiệu tội phạm, có người phạm tội thật thì việc Tòa án quyết định khởi tố là đúng, hướng đi đúng với việc điều tra của Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát; nhưng nếu đó là bản án trắng, tức là không có tội phạm hay người phạm tội thì Tòa án sẽ phải tuyên án trắng chính vụ án mà mình đã khởi tố. Điều này còn dễ dàng dẫn đến hiện tượng, Tòa án muốn bảo vệ quan điểm khởi tố ban đầu của mình, và đương nhiên nó sẽ không còn vô tư, khách quan trong quá trình xét xử nữa. Việc duy trì chức năng này không phải là không hợp lý, nó sẽ giúp cho việc không để lọt tội phạm, ngăn chặn sự nguy hiểm cho xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của công dân, bởi lẽ có thể trong quá trình điều tra, truy tố cơ quan điều tra, viện kiểm sát có thể bỏ sót tội phạm.
Tuy nhiên, không nên quy định thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự trực tiếp cho HĐXX, mà chỉ nên quy định nếu trong quá trình có tội phạm hay người phạm tội mới cần điều tra thì HĐXX đề nghị Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án. Điều này trước hết là đảm bảo việc vô tư, khách quan trong xét xử, vừa phù hợp hơn với chức năng cũng như các giai đoạn tiêp theo của tố tụng hình sự, VKS có thể kháng nghị toàn bộ hoặc một phần của bản án, quyết định; đối với tất cả bị cáo và những người tham gia tố tụng khác hoặc chỉ với một số người; hướng kháng nghị của VKS cũng không bị hạn chế. Do thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm thuộc về VKS cùng cấp và VKS cấp trên trực tiếp nên sẽ có những trường hợp xảy ra như: - Nếu hai bản kháng nghị có tính chất bổ sung cho nhau thì tòa án cấp phúc thẩm sẽ chấp nhận để xét xử theo cả hai bản kháng nghị đó. - Nếu hai bản kháng nghị mâu thuẫn nhau, VKS cùng cấp không rút kháng nghị của mình, VKS cấp trên không hủy kháng nghị của VKSND cấp dưới thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp do nguyên tắc hoạt động của VKSND là tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành.
Phạm vi kháng nghị phúc thẩm hình sự Điều 239 BLTTHS năm 2003 quy định về kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, tuy nhiên tại Khoản 2 của điều luật chỉ liệt kê các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, đó là quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, còn các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà VKS có quyền kháng nghị lại không được quy định cụ thể. Vì vậy, từ nội dung của điều luật ta có thể hiểu rằng VKS có thể KNPT đối với tất cả các quyết định tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm nếu phát hiện quyết định đó có VPPL nghiêm trọng. BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể các quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị tại Khoản 2 Điều 330, đó là quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của LTTHS 2015. Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự Thời hạn KNPT hình sự là khoảng thời gian tối đa mà BLTTHS quy định cho phép VKS kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án.
Thời hạn KNPT hình sự được tính kể từ thời điểm bắt đầu đến thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị. điều luật quy định về đối tượng kháng cáo là “những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của bộ luật này”. Đây là một quy định mang tính khái quát. Như vậy, những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là những quyết định nào? Xét về nội dung, những quyết định của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là quyết định giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm “Những quyết định hành chính tư pháp nhằm đảm bảo hoạt động đúng đắn của trình tự phúc thẩm ,“không định đoạt việc giải quyết vụ án” thì không phải là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm”.
Hiện nay, BLTTHS 2015 quy định một số quyết định kháng cáo, kháng nghị 21 Luan van phúc thẩm như sau: Quyết định khởi tố vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm; quyết định của Tòa án về việc áp dụng bắt buộc biện pháp chữa bệnh; quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện1. Theo chúng tôi, quyết định này không quyết định, định đoạt việc giải quyết vụ án nên để không kéo dài thời gian tố tụng và thời gian giải quyết vụ án không nên đưa những quyết định này là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự Điều 357 BLTTHS năm 2015 khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới; hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại tại Điều 358 BLTTHS năm 2015, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án quy định tại Điều 359 BLTTHS năm 2015. Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án.
Tòa án tự mình khởi tố một vụ án và rồi lại tự mình xét xử vụ án – điều này sẽ dẫn đến một hệ quả như sau: Nếu có dấu hiệu tội phạm, có người phạm tội thật thì việc Tòa án quyết định khởi tố là đúng, hướng đi đúng với việc điều tra của Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát; nhưng nếu đó là bản án trắng, tức là không có tội phạm hay người phạm tội thì Tòa án sẽ phải tuyên án trắng chính vụ án mà mình đã khởi tố. Điều này còn dễ dàng dẫn đến hiện tượng, Tòa án muốn bảo vệ quan điểm khởi tố ban đầu của mình, và đương nhiên nó sẽ không còn vô tư, khách quan trong quá trình xét xử nữa. Việc duy trì chức năng này không phải là không hợp lý, nó sẽ giúp cho việc không để lọt tội phạm, ngăn chặn sự nguy hiểm cho xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của công dân, bởi lẽ có thể trong quá trình điều tra, truy tố cơ quan điều 22 Luan van tra, viện kiểm sát có thể bỏ sót tội phạm. Tuy nhiên, không nên quy định thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự trực tiếp cho HĐXX, mà chỉ nên quy định nếu trong quá trình có tội phạm hay người phạm tội mới cần điều tra thì HĐXX đề nghị Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án.
Điều này trước hết là đảm bảo việc vô tư, khách quan trong xét xử, vừa phù hợp hơn với chức năng cũng như các giai đoạn tiêp theo của tố tụng hình sự [22, tr. Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án điều này có nghĩa là, trong phần xét thấy, phần quyết định của bản án hoặc quyết định sơ thẩm có những vấn đề không phù hợp với các tình tiết khách quan đã được điều tra, xác minh, thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa hoặc những tình tiết khách quan của vụ án được làm rõ tại phiên tòa qua phần xét hỏi, tranh luận.