Chương 1 MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VA QUY ĐỊNH PHÁP LUAT VE BAT BỊ CAN, BỊ CÁO. DE TẠM GIAM TRONG TO TUNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 111. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa bat bị can, bị cáo dé tạm giam. trong tố tụng hình sự Việt Nam 111.
Khái niệm bắt bị can, bị cáo dé tam giam trong tô tụng hinh sự Việt Nun - Khải niệm về bị can, bị cáo. ‘Met vé ngữ nghĩa, theo Từ điển Tiếng Việt, bị can la “người phạm tội hay tình nghi phạm tội, đã bị khởi tô và hình sự”, bi cáo là “người đã bt tòa. da quyết đình đưa ra xét xử” Trong Tir điển Giải thích thuật ngữ Luật học, bị can là “agưởi để bt khối tổ về hình sự”: bi cáo là “người đãi bị Tòa án quyết định dua ra xét xứ 3 Xét v lich sử tô tụng, thuật ngữ “bị can” đã được sử dụng trong Sắc, lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức tòa án vả các ngạch thẩm phán va trong nhiều văn bản pháp luật TTHS khác nhưng cho đến trước khi BLTTHS được ban hành vẫn chưa có một định nghĩa pháp li vé bi can. Khải niệm “bi can” được quy định lẫn đầu tiên tại Điều 34 BLTTHS năm 1988.
Theo đó, một người chỉ có thé bị khởi tổ với tư cách bị can trong vụ án hình sự khi có đũ căn cử xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tôi. Không ai có thể bi coi là bị can néu không có quyết định khối t bị can cia cơ quan có thấm. quyền Việc xác định một người có từ cách bi can từ khi não là việc rất quan trong Bai vi, khi một người phát sinh tư cách bị can ding nghĩa với việc người đồ có quyển và nghĩa vụ của bị can Các CQTHTT áp dụng các biên pháp 16 tung được phép tiến hành với bi can theo quy định của pháp luật 1 Via Nginngihoc (003), Tein Ming Hút eb Đi Weng, Đã Nẵng, 61 , 2 Tường Đụ học Lait Nộ (1099), Mc Gc eh tng Lt hoc: Lad Bh eva Lt Tổng ‘nha, nh Công ans dn, Ha Nia 10 3, ming Basha Lot Hà Nột (1099, Tr dn Giã hich that net Lat học: Lae Bb sự và Ltt Tổ ong “Bie 3b Công wishin đn Ha NG, 151 TTHS. Mét người được coi là bi can khi người đó có đũ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý bang tình sự vả cỏ quyết định khởi tổ bị can của cơ quan có thẩm qu; a 'VKS phê chuẩn khởi tổ bi can.
Theo quy định theo khoản 1 Điều 60 BLTTHS năm 2015 thi Bi can là người hoặc pháp nhên bi khối tổ về hình sự Một người khi đã có quyết định khởi tổ bị can thi được gọi la bị can. Từ khái niệm khoa học trên, có thé xác định nội ham của khái niệm Bị can gồm những đặc điểm cơ bản sau: Bị can là người bi tình nghỉ thực hiên thành vi nguy hiểm cho xã hội, hảnh vi nguy hiểm cho xã hội do người đó thực hiện phải được ghi nhận trong pháp luật hình sự, phải bi Cơ quan có thấm quyển khỏi tô, Quyết định khởi to đó phai được VKS phê chuẩn, Phải chju su tác đông vé mat pháp lý vả có thé bi áp dung những biện pháp có tinh chat cưỡng chế cân thiết được quy định trong pháp luật TTHS. Cùng với đó, thuật ngữ “bi cáo” đã được sử dụng trong nhiều sắc lệnh vẻ tô chức các cơ quan tư pháp do Chủ tich nước Việt Nam dân chủ công hỏa kí từ năm 1945. Tuy nhiên, chỉ đến năm 1974 trong Bản hướng dẫn vẻ trình tự tổ tụng sơ thẩm về hình sự (kèm theo Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án nhân dân tôi cao) mới đưa ra định nghĩa pháp lí vé khái niêm bi cáo.
Theo đó, bt cáo là người bi truy cửa trách nhiệm hinh sue trước tòa án nhân dân. Trong giai đoạn xát vit Tòa án nhân dân chi được đa một người ra vét xử với tụ cách là bị cáo néu VKSND đã truy tổ người đó trước Tòa án nhân dân, nếu VESND kiông truy 16 thì Téa án nhân dân Không được Xét xử một người với te cách là bị cáo tri những người mà Téa đn nhân dân Xét xử vỗ việc hình sự nhe Trong BLTTHS năm 1988, khái niệm bi cáo được quy định tại Diéu 34 bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra vét xứ: Tiêp dén BLTTHS năm 2015 thì bi cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết dah đưa ra xét xử: Khai niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể cia tội pham, bị cáo cũng chưa phải là người có tội. Họ chỉ tở thành người có tội nến sau khi xét xử ho bi Tòa án ra ban án kết tội và bản án đã có hiệu lực 10 pháp luật. Từ những phân tích trên ta xc định nội ham của khái niệm bi cáo gém những đặc điểm cơ ban sau: bị cáo là người hoặc pháp nhân bi tỉnh nghỉ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, Hanh vi nguy hiểm đó được ghi nhận.
trong pháp luật hình sự, phải bi VKS truy tổ bằng bản cáo trang (đổi với những vụ án xét xử theo thủ tục thông thường), hoäc quyết định truy tổ (đối với những vụ án xét xử theo thủ tục rút gon), phãi bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử, Phải chiu sự tác động về mặt pháp lý và có thé bi áp dung những biện pháp cưỡng ch cẩn thiết được quy đính trong pháp luật TTHS ~ Khái niệm về biện pháp ngăn chặn, biện pháp ngăn chăn bắt người Theo từ Điển Tiếng Việt, biên pháp được hiểu là "cách lắm, cách giải quyết một vẫn đề cụ thé’* còn ngăn chặn thi được hiểu là “chăn lại ngay từ đầu, không để cho gay tác hai. Theo Từ điển luật học thì“ Biện pháp ngăn chăn là biên pháp cưỡng é mặt TTHS áp dung kit có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bt khối tổ trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tôi quả tang đễ ngăn chặn hành vì nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn chăn họ tiếp tục phạm tôi trên tránh pháp luật hoặc có hành đông gay cẩn trở cho việc điều tra, truy tổ, Xét xit và thi hành án “5 Trong giáo trình Luật TTHS Việt Nam, tắc giả viết “Biện phdp ngăn chăn là biện pháp cưỡng ch trong TTHS ñược áp ching đốt với bị can, bị cáo, người bị tru) nã hoặc đối với những người chưa bt khởi tổ (trong trường hop khẩn cấp hoặc phạm tôi qua tang) nhằm ngăn chặn nhiững hành vi nguy hiém cho xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội. trén tránh pháp iuật hoặc có hành động gây cẩn trở cho việc điều tra, truy tổ, xét xứ và tht hành đm hình sự” ” Theo cuốn “Tội phạm hoc, luật hình sự vả TTHS” lại giải thích rằng, BPNC lá một loại biên pháp do CQĐT, VKS và Toa án áp dụng đổi với người ‘bi tinh nghĩ phạm tội, đối với bị can, bi cáo và cả người bị kết án khí các cơ 3 Vễnngìnngĩhọc U03), an Tổng it, NƠ Đi Ning. 6, 3 Vingềnngĩhọc 2003) š đôn Tông Vt, Nữ Ba Ning.
67; 6 Trong Đạt học To Bì Nga 1999), Nein gì thính Out ng Toật học: Lait HEA sự vì Lait Tổ ung Hiahse Nab. Côn a Nin g đu 154, 7 Trưng Đụ học Lait Hi Nội, Gio wah Liệt TTHS Vit Numb Công matin dn, tr 227 lì quan nay có căn cứ cho rằng những người nay sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tô, xét xử, thí hành án hoặc tiếp tục phạm tôi. BPNC gốm: Bắt, tam giữ, tạm giam, cấm di khỏi nơi cử trú, bão linh, đặt tién hoặc tai sản có giá trị để bao đâm Có thể nói rằng, các sách bao, tải liệu nêu trên đã nêu lên được chia cạnh nay hay khía cạnh khác khải niệm vé các BPNC. Một khái niệm hoàn chỉnh, chính xác vẻ các biện pháp ngăn chăn thi trong khái niệm đó phải ham chứa tất cả các dau hiệu đặc trưng của các BPNC như.
căn cứ áp dụng, mục đích áp dụng,thẩm quyển áp dụng và đổi tương ap dung biên pháp ngăn chặn. Vi vay có thể hiểu: Biện pháp ngăn chăn. là những biện pháp cưỡng chế TTHS do cơ quan hoặc người có thẩm quyền. theo quy định của pháp luật áp dụng đổi với bi can, bi cáo hoặc đối với người chưa bị khối tổ, khi có căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm kip thời ngăn chăn tội phạm, ngăn chan việc bi can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tổ, sét xử và thi hành án hoặc ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội.
Biên pháp ngăn chăn gồm. Bắt, tam giữ, tam giam, cắm đi khỏi nơi cư trú, bão lính, đất tiên hoặc tài sin có giá tri dé bão đảm Việc quy định các BPNC nhằm đăm. ‘bao cho hoạt động của các cơ quan có thẩm quyên được thực hiện thuận lợi, việc chứng minh vụ án dat kết quả tắt, góp phân năng cao hiệu quả hoạt động, đấu tranh phòng và chống tội pham Đảng thời góp phẫn bảo đầm việc thực hiện én chủ, tôn trong các quyên cơ bản của công dân được pháp luật bao vệ. Điều 109 BLTT năm 2015 đã đưa ra dy di vẻ căn cử áp dụng, muc dich áp dụng, đổi tương áp dụng, các biện pháp áp dung.
Những biện pháp ngăn chặn được áp dụng với mục dich ngăn chăn, không cho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hai cho zã hội, không để người phạm tôi tiếp tục thực hiện tội pham hoặc gây căn trở điều tra truy tổ, sét sc, thi hành án trén tranh sự trừng phạt của pháp luật Đông thời việc áp dụng các biến pháp ngăn chăn còn nhằm mục dich tao điều kiện thuận lợi để các CQTHTT giải quyết vu án như không để người phạm tôi có thể xóa dâu vết pham tội, tiêu hủy chứng cứ, làm gia chứng cử "Biện pháp ngăn chăn bắt người“ lên đầu tiên trong lịch sử lập pháp TTHS Việt Nam, được dé cập trong sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946 của Nha nước ta về quyển tư do cá nhân. Sắc lệnh đã để cập vé trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chấn bắt người nhưng chưa đưa ra quy phạm định nghĩa vẻ khải niệm biện pháp ngăn chăn bất người. Trong Luật số 103-5L/L. 005 ngây 20/5/1957 về bao dam quyền tự do thân thé va bat khả xâm phạm đổi với nhà ở, đồ vat, thư tin cia nhân dân, đã quy định bất người tại chương II - Bắt người phạm pháp.
Tiếp đến là các văn bản quy đính chi tiết vé việc bất người như.