Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về bảo đảm QBC của người bị buộc tội CTN theo pháp luật TTHS Việt Nam Chương 2: Thực trạng bảo đảm QBC của người bị buộc tội CTN tại địa bàn tỉnh Quảng Trị Chương 3: Các giải pháp tăng cường bảo đảm QBC của người bị buộc tội CTN trong TTHS. 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƢỜI BỊ BUỘC TỘI CHƢA THÀNH NIÊN 1. Một số khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của ngƣời của ngƣời bị buộc tội chƣa thành niên 1. Khái niệm người chưa thành niên Thuật ngữ người CTN được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau.
Tuy nhiên, thuật ngữ này vẫn chưa thực sự thống nhất. Trong các lĩnh vực khác nhau, thuật ngữ này cũng được hiểu theo những cách riêng, không giống nhau. Theo Từ điển Luật học: "Người CTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần, cũng như chưa có đầy đủ về quyền và nghĩa vụ công dân" [39, tr. Khái niệm này đã chỉ rõ: người CTN là người chưa hoàn thiện cả về thể lực, trí lực, tinh thần.
Chính vì thế mà việc thực hiện các quyền cũng như tham gia vào các quan hệ pháp luật còn nhiều hạn chế. Nếu chỉ xem xét quan điểm người CTN theo Từ điển Luật học thì rất khó xác định phạm vi, đối tượng là người CTN trong cơ cấu dân số. Bởi lẽ, yếu tố để xác định người CTN còn quá chung chung, chưa cụ thể và hoàn toàn mang tính chất định tính, chứ không hề đề cập đến yếu tố định lượng. Theo Pháp luật Việt Nam hiện hành, độ tuổi của người CTN đã được thống nhất trong Bộ luật Hình sự 2015, BLTTHS 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Lao động 2012, Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
Các văn bản đều quy định tuổi của người CTN là dưới 18 tuổi. Như vậy, về độ tuổi, người CTN là người chưa đủ 18 tuổi, đây có thể coi là một giới hạn trên (tối đa) của tuổi CTN, còn giới hạn dưới (tối thiểu) thông thường là 0. Ở độ tuổi này, những đặc điểm về tâm sinh lý của người CTN có những biểu hiện khá phức tạp và mang những đặc trưng riêng tùy theo từng giai đoạn của sự phát triển. Qua việc nghiên cứu những đặc trưng về tâm sinh lý, xã 7 hội của người CTN, có thể nhận thấy một số điểm khác biệt của người CTN so với người thành niên: - Người CTN là người chưa phát triển toàn diện về thể chất.
Sự phát triển này biểu hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp, sự hoàn thiện các giác quan. Điểm khác biệt này là do nhân tố sinh học. - Người CTN là người là người chưa phát triển đầy đủ về trí tuệ và tâm sinh lý. Cũng như quá trình sinh học, não bộ của nhóm đối tượng này phát triển cùng với sự phát triển về thể chất.
- Người CTN chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Độ tuổi của NCTN là ranh giới để phân biệt họ với người thành niên. Theo đó người chưa đủ 18 tuổi là NCTN, chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Còn người từ đủ 18 tuổi trở lên, về nguyên tắc có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân.
Tóm lại, người CTN là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. Khái niệm về quyền bào chữa QBC là một trong những chế định quan trọng, phức tạp, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao. Theo Từ điển Tiếng việt “Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự (VAHS) hay dân sự trước Tòa án hoặc cho một việc làm đang bị lên án”. Từ trước đến nay, QBC đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu.
Tuy nhiên, xung quanh khái niệm, nội dung, bản chất, chủ thể. của quyền này vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà khoa học pháp lý cũng như những cán bộ làm công tác áp dụng pháp luật: - Quan điểm thứ nhất cho rằng: “QBC là tất cả các quyền mà pháp luật quy định để chống lại sự buộc tội” [18, tr. - Quan điểm thứ hai cho rằng: "QBC là tổng hợp các hành vi tố tụng của bị can, bị cáo trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm đưa ra các chứng cứ để bào vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan 8 THTT” [9, tr. Tác giả đã đề cập đến nội dung vượt quá phạm vi QBC của bị can, bị cáo.
Bởi quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo được pháp luật TTHS điều chỉnh rất nhiều, nhưng có những quyền không thuộc nội hàm của QBC. Mặt khác, quan niệm "QBC là tổng hợp các hành vi tố tụng" là không đúng mà là tổng hợp các quyền trong đó có nhiều quyền được ghi trong pháp luật TTHS và cũng có một số quyền mà người bị buộc tội có thể tự thể hiện khi pháp luật không quy định. - Quan điểm thứ ba cho rằng: "QBC là tổng hợp các quyền tố tụng tạo khả năng cho bị can, bị cáo bào chữa về hành vi do mình thực hiện đã bị buộc tội và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác" [45, tr. Khái niệm này không đi thẳng vào nội dung của QBC.
- Quan điểm thứ tư cho rằng: “QBC trong TTHS là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan THTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự (TNHS) của mình trong VAHS” [13, tr. Ngoài các quan điểm nêu trên thì trong BLTTHS của các nước trên thế giới cũng có những luận điểm hết sức khác nhau về chủ thể của QBC. Điều 47 BLTTHS Liên bang Nga cho rằng: “NBC được tham gia tố tụng (TGTT) từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp người bị tình nghi thực hiện tội phạm bị tạm giữ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trước khi khởi tố bị can thì khi nhận được biên bản về việc bắt hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam” [43]. Theo BLTTHS Nhật Bản thì QBC chỉ thuộc về người bị tình nghi và bị cáo.
Điều 30 bộ luật này quy định: “Bị cáo và người bị tình nghi có thể lựa chọn Luật sư bất cứ lúc nào”. [44] Như vậy ta thấy rằng, khái niệm về QBC được hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng hầu hết các quan điểm đều đã chỉ ra được những đặc trưng cơ bản của việc bào chữa cho đối tượng bị buộc tội. Tuy nhiên, để có thể đưa ra được khái niệm 9 riêng, tổng quát về QBC của người bị buộc tội ta phải xem xét những đặc trưng cơ bản sau: - QBC trong TTHS thuộc về người bị buộc tội và ở các giai đoạn khác nhau của tố tụng. Đó là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (người bị kết án).
Những người này được sử dụng các biện pháp do luật định để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và bình đẳng với Kiểm sát viên trong việc đưa ra lập luận gỡ tội. - Mục đích sự tham gia của NBC trong TTHS là nhằm bảo vệ các quyền lợi của người bị buộc tội khỏi sự vi phạm có thể từ phía người THTT, người TGTT khác. - Quy trình bào chữa được thực hiện bởi người bị buộc tội, đại diện hợp pháp của họ (nếu có) hay do người mà người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhờ hoặc chỉ định được cơ quan THTT chấp nhận. - Việc bào chữa được diễn ra công khai tại phiên tòa có sự tham gia đầy đủ của những người THTT và những người TGTT.
Có một sự thống nhất là: bào chữa được hiểu là việc dùng lý lẽ, chứng cứ, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Còn quyền là khái niệm pháp lý để chỉ những điều mà luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế. BLTTHS năm 2015 quy định: “Người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa”. Trong Hiến pháp năm 2013 tại Khoản 4 Điều 31 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa”.
Pháp luật hiện hành quy định QBC thuộc về người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho người bị buộc tội. Đối với việc bảo vệ các quyền và lợi ích các chủ thể đó không trực tiếp liên quan tới việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ trong vụ án thì không thuộc về giới hạn của QBC. Tuy nhiên, khi đã bào chữa cho người bị bắt, tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo trong 10 vụ án thì NBC cũng đồng thời giúp cho họ trong việc bảo vệ các quyền đó. Với những phân tích nêu trên và căn cứ vào quy định của Hiến pháp, của BLTTHS tác giả cho rằng quan niệm “QBC trong TTHS là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan TTHS, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ TNHS của mình trong VAHS” là chưa đầy đủ và chính xác.
Bởi, buộc tội trong TTHS là quá trình chứng minh tội phạm của các chủ thể buộc tội đối với người bị buộc tội. Hoạt động buộc tội có thể được thực hiện thông qua quyết định có tính chất buộc tội chính thức như quyết định khởi tố, truy tố hoặc chủ thể buộc tội áp dụng một số biện pháp cưỡng chế như bắt, tạm giữ, khám xét trước khi khởi tố trên cơ sở phán đoán chủ quan của cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng là cần thiết cho quá trình chứng minh tội phạm.