Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Những vấn đề lý luận về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự Chương 3: Thực tiễn quy định và thi hành pháp luật về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam Chương 4: Yêu cầu và các giải pháp tăng cường vai trò của hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc 1. Nhóm công trình nghiên cứu về khái niệm, địa vị pháp lý và vai trò của hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự Về khái niệm HTND trong TTHS gồm sách, tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan, như: cuốn “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng xuất bản năm 2011; cuốn “Từ điển tiếng Việt” do Trung tâm Từ điển và Viện ngôn ngữ học thực hiện, được Nxb Bách khoa ấn hành năm 2007; Luận văn thạc sĩ đề tài “Địa vị pháp lý của hội thẩm trong TTHS”, Khoa Luật trường Đại học quốc gia Hà Nội (2015) của tác giả Trần Thị Kim Cúc. Các tài liệu này đã góp phần giải thích, phân tích về khái niệm HTND hiểu theo nghĩa gốc Hán, theo từ điển Pháp, gốc Latinh,… từ đó có cách hiểu thống nhất về thuật ngữ, vị trí của HTND trong xét xử nói chung.
Nhóm các công trình nghiên cứu về địa vị pháp lý, vai trò của HTND trong TTHS, gồm: Đề tài KX.06 (2007) “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nêu cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của tòa án trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” (Chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước 2001 - 2005, do Bộ Tư pháp chủ trì, nghiệm thu năm 2007); Đề tài khoa học cấp bộ “Đổi mới chế định hội thẩm trong cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Văn Sản làm Chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2009; Đề tài cấp cơ sở của TAND tối cao (2014) “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý hội thẩm TAND, giải pháp và kiến nghị” do Thẩm phán Chu Xuân Minh làm Chủ nhiệm. Các công trình này đã nêu một cách khái quát về khái niệm, địa vị pháp lý, vai trò và hoạt động cơ bản của HTND. Ở tập bài viết gồm 42 trang về công tác tư pháp năm 1950 của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Trần Công Tường đã tập trung phân tích quá trình xây dựng chính quyền dân chủ, nhiệm vụ của TAND và HTND. Tập bài viết đã lý giải về việc đổi tên gọi “phụ thẩm nhân dân” thành “hội thẩm nhân dân”, đồng thời cho thấy đây không chỉ là sự thay đổi về hình thức mà còn ẩn chứa các giá trị cốt lõi về quan 8 niệm, nhận thức, bản chất, vai trò của HTND thể hiện tính nhân dân với những quy định tương đối cụ thể [89].
Trong luận án tiến sĩ luật học về đề tài “Địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Khoa học xã hội 2019, tác giả Trần Thị Thu Hằng đã luận giải một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của HTND, nêu ra thực trạng các mối quan hệ và các giải pháp nhằm nâng cao địa vị pháp lý của HTND. Mặc dù vậy, luận án không đề cập nhiều đến lịch sử ra đời của cơ chế đại diện nhân dân trong xét xử và chưa đặt ra các vấn đề riêng về HTND trong TTHS. Trong nhóm công trình nghiên cứu còn có các bài báo khoa học, chẳng hạn như bài viết “Bàn về mô hình tổ chức hệ thống tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay” của TS Nguyễn Minh Đoan đăng trên Tạp chí Tòa án số 4 năm 2010; bài viết “Luận bàn về tòa án là cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam” của Nguyễn Bằng Phi đăng trên Tạp chí Tòa án số 15/2014. Tuy không chú trọng vào đặc điểm, hoạt động của HTND trong TTHS nhưng các bài viết đó đã cung cấp các thông tin, quan điểm để làm rõ hơn về khái niệm, vai trò, địa vị của HTND cùng thực trạng hoạt động của HTND nói chung ở Việt Nam hiện nay.
Đặc biệt, trong bài viết “Đôi điều về chế định hội thẩm trong xét xử hình sự” của Ths. Liêu Chí Trung đăng trên Tạp chí Luật sư Việt Nam số 6/2015, đã nêu khá rõ quan điểm về vai trò và việc áp dụng thực hiện hội thẩm trong xét xử hình sự ở Việt Nam hiện nay khi cho rằng việc quy định và áp dụng xét xử có hội thẩm cùng với ý nghĩa nhân đạo, góp phần giải quyết vụ án được khách quan còn giúp tăng cường nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, để người dân giám sát hoạt động của tòa án một cách trực tiếp, rộng rãi. Nhóm công trình nghiên cứu về lý luận, lịch sử quy định của pháp luật đối với hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự Vấn đề quan điểm, nhận thức và lịch sử phát triển chế độ đại diện nhân dân tham gia xét xử, phải kể đến các tài liệu, công trình nghiên cứu như: Cuốn sách “Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Minh Tường do Nxb Khoa học và xã hội ấn hành năm 2012, đã giới thiệu về lịch sử phát triển tư tưởng ở phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Ả Rập và Việt Nam. Trong đó, cuốn sách cung cấp một số thông tin bổ ích về sự hình thành 9 các quan điểm, tư tưởng tiêu biểu và các điều kiện kinh tế - xã hội gắn liền với bối cảnh lịch sử, cũng như cách thức tổ chức, hoạt động xét xử ở một số quốc gia ở phương Đông thời cổ đại.
Nội dung cuốn sách cũng chỉ ra những nét cơ bản về các cơ sở, sự tác động, ảnh hưởng và hoạt động xét xử trong lịch sử ở Việt Nam. Cuốn sách “Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền” do GS. TS Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên), được Nxb Tư pháp xuất bản năm 2004, đã chỉ ra những vấn đề cơ bản về tổ chức, hoạt động tư pháp và vai trò của người dân trong nhà nước pháp quyền. Trong đó, tác giả không chỉ nêu lên những đặc điểm của các mô hình tư pháp trong nhà nước pháp quyền, mà còn nêu ra các dấu hiệu, sự hình thành, mối quan hệ trong tổ chức, hoạt động của chính quyền, hệ thống tư pháp mà các quốc gia áp dụng thực hiện khi xây dựng nhà nước pháp quyền.
Trong cuốn sách “Nhận diện nhà nước pháp quyền” của Trần Quyết Thắng do Nxb Đà Nẵng phát hành năm 2017, dựa trên cơ sở những khảo cứu về nhà nước pháp quyền đã liệt kê các dấu hiệu nhằm nhận diện một nhà nước pháp quyền hiện đại. Cuốn sách có phần nêu rõ vai trò của người dân trong tổ chức, hoạt động tư pháp và quản lý nhà nước của nhà nước pháp quyền. Ở cuốn sách “Độc lập xét xử trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” của TS Lưu Tiến Dũng do Nxb Tư pháp xuất bản năm 2012, tác giả đã phân tích các cơ sở khoa học của nguyên tắc độc lập xét xử cũng như các khía cạnh liên quan đến độc lập xét xử và đưa ra 13 yếu tố cơ bản bảo đảm độc lập xét xử, trong đó có 7 yếu tố có vai trò quan trọng thuộc về thẩm phán, bồi thẩm, HTND. Luận án tiến sĩ luật học về đề tài “Các yếu tố bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Khoa học xã hội năm 2013 của Nguyễn Hải Ninh đề cập đến cội nguồn và quá trình hình thành của tư tưởng độc lập xét xử, đồng thời chỉ ra các yếu tố quan trọng về lý luận, thực tiễn nhằm bảo đảm về độc lập xét xử.
Đặc biệt, đặt trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách tư pháp, luận án còn phân tích thực trạng, đề xuất các giải pháp nâng cao về đảm bảo độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay. Cuốn sách “Quy trình lập hiến trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của TS. Nguyễn Quang Minh do Nxb Tư pháp phát hành năm 2013 cung 10 cấp những kiến thức cơ bản về lý luận quy trình lập pháp, quá trình hình thành và thực hiện quy trình lập hiến ở Việt Nam. Cuốn sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư pháp” do Tạp chí Dân chủ và pháp luật tổ chức biên soạn và xuất bản năm 2010, gồm nhiều bài viết có giá trị của các nhà khoa học, quản lý rất đáng chú ý như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nền tư pháp nhân dân và các cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam” của TS Uông Chu Lưu; “Công lý và pháp lý dưới lá cờ “chí công vô tư” của Hồ Chủ tịch” của tác giả Vũ Đình Hòe.
Các bài viết đã nêu bật quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về hoạt động tư pháp; vai trò của người dân trong quản lý, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, hoạt động xét xử; cung cấp nhiều thông tin bổ ích về quá trình ra đời, hoạt động tư pháp, xét xử ở Việt Nam, nhất là sự thay đổi trong nhận thức, quan điểm vai trò đại diện của người dân trong xét xử từ năm 1950. Các bài viết trong cuốn sách này cùng với “Tập bài viết của Thứ trưởng Trần Công Tường về công tác tư pháp năm 1950” [89] đã làm rõ về việc chính thức gọi tên tòa án nhân dân, “phụ thẩm nhân dân” được đổi là “hội thẩm nhân dân” với những quy định thể hiện rõ hơn về thẩm quyền, vai trò của HTND trong xét xử hình sự. Cùng với đó là các công trình khoa học, các bài báo, như: Bài viết “Bàn về vai trò của chế định HTND ở nước ta hiện nay” của Ths Cao Việt Thắng đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9/2011, lưu ý về sự giao thoa và tiếp nhận văn hóa pháp lý Trung Quốc, đồng thời nhận định pháp luật chưa phải là quy tắc cao nhất để phán xét đối với các hành vi của xã hội. Do đó, sự tham gia của HTND vào hoạt động xét xử góp phần đưa tiếng nói từ phía người dân, từ phía xã hội giúp cho các phán xét “thấu tình, đạt lý”.