Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay" do tác giả Liêu Chí Trung thực hiện, nghiên cứu chuyên sâu về chế định hội thẩm nhân dân (HTND) trong tố tụng hình sự (TTHS) tại Việt Nam.

Phán quyết của tòa án trong các vụ án hình sự liên quan trực tiếp đến quyền sống, quyền tự do, sinh mệnh chính trị của cá nhân và ảnh hưởng đến trật tự xã hội, uy tín của nhà nước. Kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nguyên tắc xét xử có sự tham gia của đại diện nhân dân đã trở thành nguyên tắc hiến định, được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị xác định nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, phán quyết căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, coi tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm.

Mặc dù có cơ sở chính trị và pháp lý vững chắc, hoạt động của HTND trong TTHS thời gian qua vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Thống kê thực tế cho thấy cơ cấu thành phần hội thẩm chưa phản ánh đầy đủ tính đại diện: có tới 99,95% hội thẩm là cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng hưu trí (thuộc nhóm 7% dân số), trong khi chỉ có 0,03% hội thẩm đại diện cho 93% dân số còn lại. Từ ngày 01/01/2010 đến hết năm 2020, các cơ quan nhà nước đã giải quyết xong trên 420 vụ việc bồi thường oan sai với số tiền bồi thường ước tính trên 225 tỷ đồng. Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW cũng đánh giá chất lượng xét xử ở một số tòa án chưa cao, còn xảy ra sai sót, nhiều bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị hoặc đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận chế định hội thẩm nói chung hoặc nghiên cứu thiết chế bồi thẩm đoàn ở tầm vĩ mô, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống về HTND trong TTHS. Do đó, việc nghiên cứu đề tài là một nhiệm vụ cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về HTND trong TTHS, đề xuất các giải pháp tăng cường vai trò của HTND trong TTHS ở Việt Nam.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xem xét, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, làm rõ những kết quả nghiên cứu đã công bố, xác định những khoảng trống và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Làm rõ khái niệm, đặc trưng, vai trò của HTND trong TTHS; xem xét về các mối quan hệ, cơ sở hình thành, những yếu tố tác động đến HTND trong TTHS; quá trình hình thành, phát triển của đại diện nhân dân trong xét xử hình sự; việc tổ chức, hoạt động của một số mô hình TTHS tiêu biểu hiện nay trên thế giới để liên hệ với Việt Nam.
  3. Phân tích, đánh giá quy định và thực tiễn thi hành quy định pháp luật về HTND trong TTHS ở Việt Nam từ khi có Hiến pháp năm 2013 đến nay; chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó.
  4. Phân tích các yêu cầu và đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường vai trò của HTND trong TTHS ở Việt Nam trên cơ sở phù hợp với đặc thù tình hình chính trị - xã hội Việt Nam và xu hướng phát triển hiện nay.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: Làm thế nào để hoàn thiện quy định và thực hiện có hiệu quả vai trò của HTND trong TTHS ở Việt Nam hiện nay?
  • Các giả thuyết nghiên cứu:
    1. HTND trong TTHS được hình thành, phát triển và có quan hệ, chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, trong đó có chính sách pháp luật của nhà nước nhằm phát huy dân chủ, đảm bảo công bằng, công lý và quyền con người.
    2. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về HTND trong TTHS còn nhiều bất cập, nhất là ở quá trình tham gia xét xử của HTND trong vụ án hình sự.
    3. Các giải pháp hoàn thiện HTND trong TTHS ở Việt Nam hiện nay chưa được nghiên cứu, thực hiện một cách đầy đủ, toàn diện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, thực tiễn quy định pháp luật và thi hành quy định về HTND trong TTHS ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Quy định về HTND trong xét xử vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân (TAND) cấp tỉnh và cấp huyện ở Việt Nam (không bao gồm hội thẩm quân nhân trong Tòa án quân sự).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong đó tập trung vào giai đoạn từ khi có Hiến pháp năm 2013 đến nay.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa và phân tích khối lượng lớn các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chế định đại diện nhân dân tham gia xét xử và tính độc lập tư pháp:

Các nghiên cứu trong nước

Tình hình nghiên cứu trong nước được phân chia thành ba nhóm chính:

  1. Nhóm công trình về khái niệm, địa vị pháp lý và vai trò của HTND:

    • Về mặt thuật ngữ và khái niệm: "Từ điển tiếng Việt" (Hoàng Phê chủ biên, 2011), "Từ điển tiếng Việt" (Trung tâm Từ điển và Viện ngôn ngữ học, 2007); Luận văn thạc sĩ "Địa vị pháp lý của hội thẩm trong TTHS" của Trần Thị Kim Cúc (Khoa Luật - ĐHQGHN, 2015).
    • Về địa vị pháp lý và vai trò: Đề tài cấp nhà nước KX.06 (2007) do Bộ Tư pháp chủ trì; Đề tài cấp bộ "Đổi mới chế định hội thẩm trong cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Văn Sản (2009); Đề tài cấp cơ sở TAND tối cao "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý hội thẩm TAND, giải pháp và kiến nghị" của Chu Xuân Minh (2014); Luận án tiến sĩ "Địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay" của Trần Thị Thu Hằng (Học viện Khoa học xã hội, 2019); Tập bài viết về công tác tư pháp năm 1950 của Trần Công Tường; các bài báo khoa học của Nguyễn Minh Đoan (2010), Nguyễn Bằng Phi (2014), Liêu Chí Trung (2015).
  2. Nhóm công trình về lý luận, lịch sử pháp luật và mô hình tố tụng:

    • Lịch sử và tư tưởng pháp lý: "Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam" của PGS.TS Nguyễn Minh Tường (2012); "Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền" do GS.TS Nguyễn Đăng Dung chủ biên (2004); "Nhận diện nhà nước pháp quyền" của Trần Quyết Thắng (2017); "Độc lập xét xử trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam" của TS Lưu Tiến Dũng (2012); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hải Ninh (2013); "Quy trình lập hiến trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của TS Nguyễn Quang Minh (2013); tác phẩm "Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư pháp" (2010) với các bài viết của TS Uông Chu Lưu, Vũ Đình Hòe; các bài viết của Cao Việt Thắng (2011), Trương Hòa Bình (2016), Trần Minh Giang (2014), Lê Thu Hương (1999), Nguyễn Hà Thanh (2009); Luận văn thạc sĩ của Hoàng Trí Lý (2015).
    • Lịch sử tư pháp cổ luật và thời kỳ trước 1975: "Cổ luật Việt Nam thông khảo và tư pháp sử" của GS Vũ Văn Mẫu (1974); "Định chế pháp luật và tố tụng triều Nguyễn (1802-1885)" của TS Huỳnh Công Bá (2017); "Án lệ vựng tập (1948-1967)" của Trần Đại Khâm (1969); "Sơ thảo lịch sử nhà nước pháp quyền Việt Nam" của Đinh Gia Trinh (1968); "Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam" (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007).
    • Nghiên cứu mô hình TTHS thế giới: "Chính sách pháp luật" của GS.TS Võ Khánh Vinh (2020); "Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới" (Nxb Hồng Đức, 2012); sách của TS Tô Văn Hòa (2007); các bài báo của Phạm Quang Huy (2015), Liêu Chí Trung (2020).
  3. Nhóm công trình về thực trạng, yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử:

    • "Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính" do GS.TSKH Đào Trí Úc và PGS Vũ Công Giao chủ biên (2014); "Tư pháp trong nhà nước pháp quyền và những yêu cầu đặt ra đối với cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay" do GS.TSKH Lê Cảm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên (2014); "Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay" của GS.TSKH Đào Trí Úc (2002); Luận án tiến sĩ của Trương Thị Thu Trang (2016); Đề tài cấp cơ sở TAND tối cao của Trần Văn Tú (2002); các bài viết của Nguyễn Ngọc Chí (2009), Trương Hòa Bình (2009, 2016), Lê Thị Thu Thủy (2006), Nguyễn Hữu Chính (2012), Trần Kỳ (2014), Đinh Văn Quế (2015), Chu Hải Thanh (1999), Nguyễn Tất Viễn (2000), Hoàng Hùng Hải (2005), Nguyễn Quang Lộc (2006), Lê Văn Sua (2015), PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (2021).

Các nghiên cứu quốc tế

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài được tổng hợp qua các văn kiện quốc tế và công trình học thuật:

  • Chuẩn mực quốc tế về độc lập xét xử: "The U.N. Basic Principles on Judicial Independence" (Liên hợp quốc thông qua tại Milan, 1985); "Beijing Statement of Principles of the Independence of the LAWASIA region" (1995, sửa đổi 1997 tại Manila); Nguyên tắc Bangalore về ứng xử của cơ quan tòa án (2002, bình luận năm 2007); "IBA Code of Minimum Standard of Judicial Independence" (1982); "Tuyên bố toàn cầu về độc lập xét xử tại Montreal" (1983).
  • Mô hình tố tụng và chế định đại diện nhân dân: Nghiên cứu của Lloyd L. Weinreb (Đại học Cambridge, 2005); các chuyên khảo của GS Byung-Sun Cho (Nhật Bản, Hàn Quốc), GS Liling Yue (Trung Quốc), GS William Burnham (CHLB Nga), GS Shine (Hoa Kỳ), Jean-Philippe Ravaud (Cộng hòa Pháp) trong tài liệu của Chương trình đối tác tư pháp (JPP, 2012); sách của Zhou Yuanyuan (2015); bài viết của QIU Qunran và YAN Chen trên Tạp chí Luật Thanh Hoa (2019).
  • Lý luận kinh điển và tư pháp học: "Bàn về tinh thần pháp luật" của Montesquieu; "Chế độ dân chủ: Nhà nước và xã hội" của N.B. Davletshina (2008); "Sự chuyển dịch cả hệ thống pháp luật tư" của John H. Merryman (2007); V.I. Lênin toàn tập (tập 36, 1997); các tác phẩm của L. Aleksandriya (1991), L. Vosposposiya (2003) và luận án phó tiến sĩ tại Kyrgyzstan.
  • Báo cáo thực trạng tư pháp tại Việt Nam: Báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2004) đưa ra 6 khuyến nghị về độc lập xét xử; nghiên cứu khảo sát của Staton xếp Việt Nam thứ 146/191 quốc gia về bảo đảm xét xử độc lập; Báo cáo khảo sát thực trạng quản lý hành chính TAND tại Việt Nam thuộc Dự án 00058492 của UNDP (2012).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Mặc dù các công trình đã chỉ ra vai trò, địa vị pháp lý và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hội thẩm, nhưng phần lớn mới dừng lại ở việc xem xét chế định HTND nói chung hoặc tiếp cận dưới góc độ tổ chức tòa án vĩ mô. Những vấn đề lý luận chuyên biệt về HTND trong TTHS chưa được làm sáng tỏ một cách sâu sắc; cơ sở hình thành, bản chất mối quan hệ tố tụng, nguyên nhân sâu xa của những bất cập trong tổ chức và hoạt động của HTND trong vụ án hình sự chưa được lý giải đồng bộ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về HTND trong TTHS ở Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án dựa trên hệ thống lý luận về tố tụng tư pháp, lý luận về chính sách pháp luật và chính sách TTHS; các quan điểm, định hướng cải cách tư pháp trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; và lý thuyết về chế định HTND trong tư pháp hình sự.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Luận án sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách và pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam về xây dựng và cải cách tư pháp. Tác giả áp dụng hướng tiếp cận hệ thống đa ngành và liên ngành.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    1. Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng để phân tích các quy định pháp luật, tài liệu học thuật và số liệu thực tiễn xét xử.
    2. Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực tế về hoạt động xét xử có HTND tham gia từ sau năm 1945 đến nay.
    3. Phương pháp lịch sử: Khảo sát tiến trình hình thành và phát triển của cơ chế đại diện nhân dân trong TTHS qua các giai đoạn lịch sử.
    4. Phương pháp so sánh: Đối chiếu chế định HTND ở Việt Nam qua các thời kỳ và so sánh với mô hình bồi thẩm đoàn, hội thẩm, thẩm phán không chuyên ở các quốc gia khác.
    5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Rút ra các vấn đề có tính nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của chế định HTND.
    6. Phương pháp nghiên cứu điển hình: Chọn lọc và phân tích số liệu, mô hình xét xử tại một số địa phương cụ thể để làm rõ thực trạng.
    7. Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả trực tiếp thực hiện cuộc khảo sát xã hội học vào tháng 5/2020 với quy mô 100 người là những người có trình độ chuyên môn, quan tâm đến hoạt động tư pháp để thu thập đánh giá về vai trò và thực trạng HTND trong TTHS.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Tổ chức TAND; Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND năm 1993, Sắc lệnh 85-SL ngày 22/5/1950...); các văn kiện, nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW); báo cáo tổng kết của TAND tối cao và TAND các cấp; số liệu thống kê xét xử thực tế tại TP. Hà Nội (Phúc Thọ, Hoàng Mai, Hoài Đức), TP. Hải Phòng (Dương Kinh), TP. Hồ Chí Minh, Hưng Yên (Tiên Lữ) giai đoạn 2008-2021; số liệu giải quyết án hình sự cả nước các năm 2018, 2019, 2020; các văn kiện chuẩn mực quốc tế của Liên hợp quốc, IBA, LAWASIA và các báo cáo khảo sát của ADB, UNDP.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 thực hiện tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung: khái niệm và địa vị pháp lý; lý luận và lịch sử quy định; thực trạng, yêu cầu và giải pháp tăng cường vai trò của đại diện nhân dân trong xét xử hình sự.

Tác giả rút ra kết luận: cơ chế đại diện nhân dân tham gia xét xử là xu thế phổ quát của nền tư pháp tiến bộ, phản ánh tính dân chủ và bảo vệ quyền con người. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu chế định này đã đạt được nhiều kết quả nhưng còn mang tính tản mạn, chủ yếu đề cập HTND nói chung hoặc dừng lại ở các đề xuất mang tính gợi mở. Chương 1 xác lập cơ sở khoa học và định hình các vấn đề trọng tâm mà luận án cần giải quyết: làm rõ bản chất lý luận, đặc trưng, mối quan hệ tố tụng của HTND; đánh giá thực trạng quy định và thi hành từ sau Hiến pháp 2013; so sánh quốc tế và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự

Chương 2 làm sáng tỏ các nền tảng lý luận cơ bản của chế định HTND trong TTHS:

  • Khái niệm và nguồn gốc:

    • Thuật ngữ "hội thẩm" có gốc Hán tự: "hội" là sự gặp gỡ, hội họp của những người cùng ý tứ để làm việc; "thẩm" là biết rõ tình hình, khảo xét kỹ càng, xử đoán. "Hội thẩm" nghĩa là người thấu suốt tình lý tham gia vào việc xử án.
    • Trong tiếng Pháp, "Assesseur" bắt nguồn từ tiếng Latinh "Assessor" (có nghĩa là giúp đỡ hoặc đưa ra lời khuyên).
    • Ở Việt Nam, từ năm 1945 đến năm 1950 sử dụng tên gọi "phụ thẩm nhân dân". Kể từ Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950, danh xưng chính thức được chuyển đổi thành "hội thẩm nhân dân", đánh dấu bước chuyển căn bản trong nhận thức về vai trò độc lập, ngang quyền của hội thẩm trong xét xử.
    • Từ điển tiếng Việt định nghĩa HTND là người do Hội đồng nhân dân (HĐND) bầu ra trong một thời gian nhất định cùng với thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử các vụ án xảy ra ở địa phương.
  • Địa vị pháp lý của HTND trong TTHS:

    • Là chức danh tư pháp do HĐND bầu theo nhiệm kỳ (5 năm), đại diện cho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong xét xử.
    • Địa vị pháp lý của HTND trong TTHS mang tính giai đoạn: chỉ phát sinh và tồn tại từ khi được Chánh án phân công tham gia giải quyết vụ án và trong suốt quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
    • Hội thẩm không phải là công chức xét xử chuyên nghiệp, được hưởng chế độ bồi dưỡng, trang phục và thù lao theo quy định.
    • Trong Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm hình sự, HTND chiếm đa số (2 HTND và 1 thẩm phán đối với thành phần 3 người; 3 HTND và 2 thẩm phán đối với thành phần 5 người), thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử, bình đẳng và quyết định theo đa số với thẩm phán trên tất cả các vấn đề: định tội danh, áp dụng hình phạt và trách nhiệm dân sự.
  • Vai trò và các mối quan hệ của HTND:

    • Vai trò: Đưa tiếng nói, chuẩn mực đạo đức và thực tiễn đời sống xã hội vào phiên tòa; bảo đảm việc xét xử "thấu tình đạt lý", khách quan, tránh áp dụng pháp luật cứng nhắc; thực hiện quyền giám sát tư pháp của nhân dân; làm cầu nối tuyên truyền, phổ biến pháp luật giữa tòa án và cộng đồng.
    • Quan hệ với người tiến hành tố tụng: Phối hợp và độc lập với thẩm phán chủ tọa trong nghiên cứu hồ sơ, điều khiển xét hỏi, nghị án; quan hệ hỗ trợ với hội thẩm khác; tiếp nhận sự hỗ trợ hành chính từ thư ký tòa án; xem xét, giải quyết các yêu cầu, quan điểm công tố của kiểm sát viên.
    • Quan hệ với người tham gia tố tụng: Xét hỏi, lắng nghe và đánh giá khách quan lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi, người giám định và người phiên dịch.
    • Quan hệ với các cơ quan, tổ chức: Chịu sự giám sát gián tiếp từ HĐND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; sinh hoạt nghiệp vụ tại Đoàn hội thẩm; phối hợp công tác với cơ quan nơi làm việc và chính quyền nơi cư trú; ứng xử đúng mực trước các cơ quan báo chí nhằm bảo mật thông tin tố tụng.
  • Nhu cầu thể chế hóa bằng pháp luật:

    • Thể chế hóa là tất yếu nhằm xác lập khuôn khổ pháp lý, bảo đảm tính hợp pháp, phục vụ việc giám sát pháp lý - xã hội đối với quyền lực tư pháp.
    • Thể chế hóa chủ trương đường lối của Đảng (Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW) và chính sách pháp luật của Nhà nước vào Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự và các đạo luật liên quan.
  • So sánh mô hình đại diện nhân dân trong xét xử: Chương 2 tổng hợp sự khác biệt giữa mô hình Hội thẩm nhân dân ở Việt Nam và mô hình Bồi thẩm đoàn ở các nước:

Tiêu chí so sánh Mô hình Hội thẩm nhân dân (Việt Nam) Mô hình Bồi thẩm đoàn (Ngoại quốc: Mỹ, Anh, Nga...)
Cách thức hình thành Do HĐND bầu theo nhiệm kỳ 5 năm từ danh sách đề cử của MTTQ. Lựa chọn ngẫu nhiên từ danh sách cử tri/công dân theo từng vụ việc cụ thể.
Phạm vi tham gia Tham gia xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án hình sự (trừ thủ tục rút gọn). Chủ yếu tham gia trong các vụ án hình sự nghiêm trọng hoặc theo yêu cầu.
Thành phần trong HĐXX Chiếm đa số trong HĐXX sơ thẩm (2/3 hoặc 3/5 thành viên). Lập thành đoàn riêng biệt (thường từ 6 đến 12 bồi thẩm viên).
Thẩm quyền phán quyết Ngang quyền với thẩm phán: quyết định cả tội danh, hình phạt và dân sự. Chỉ biểu quyết xác định bị cáo có tội hay không có tội; thẩm phán quyết định hình phạt.
Tính chất hoạt động Là người tiến hành tố tụng, tham gia xét hỏi và nghị án cùng thẩm phán. Ngồi nghe tranh tụng độc lập, không tham gia xét hỏi chuyên môn cùng thẩm phán.

Chương 3: Thực tiễn quy định và thực thi pháp luật về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam

Chương 3 phân tích thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và đánh giá việc thi hành trên cơ sở dữ liệu thực chứng:

  • Thực tiễn quy định: Hệ thống pháp luật từ Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức TAND năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ tiêu chuẩn, quyền hạn và nghĩa vụ của HTND. Tuy nhiên, quy định về trách nhiệm pháp lý khi để xảy ra oan sai, quy chế làm việc của Đoàn hội thẩm và cơ chế bảo đảm thời gian nghiên cứu hồ sơ còn chưa đầy đủ.

  • Dữ liệu thực tế và các số liệu thống kê nổi bật:

    • Cơ cấu thành phần: 99,95% hội thẩm là cán bộ, công chức, viên chức và người nghỉ hưu; chỉ có 0,03% đại diện cho 93% dân số thuộc các thành phần lao động khác.
    • Tình hình bồi thường oan sai: Giai đoạn 2010 - 2020 giải quyết trên 420 vụ bồi thường oan sai với số tiền ước tính hơn 225 tỷ đồng.
    • Số liệu khảo sát: Luận án tiến hành khảo sát xã hội học (tháng 5/2020 trên 100 người) và thống kê kết quả xét xử tại TAND TP. Hải Phòng (2015-2021), TAND TP. Hồ Chí Minh (2015-2021), TAND huyện Hoài Đức (2008-2018), TAND huyện Tiên Lữ (2008-2018), TAND huyện Phúc Thọ (2015-2021), TAND quận Hoàng Mai (2015-2021), TAND quận Dương Kinh (2015-2021), cùng tình hình xét xử án sơ thẩm, phúc thẩm cả nước các năm 2018, 2019, 2020.
  • Những hạn chế, bất cập trong thực tiễn thi hành:

    1. Chất lượng và tính độc lập xét xử: Hội thẩm hoạt động kiêm nhiệm, trình độ chuyên môn luật không đồng đều; thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án trước phiên tòa còn hạn chế dẫn đến tình trạng lệ thuộc vào quan điểm của Thẩm phán chủ tọa.
    2. Cơ cấu đại diện chưa cân đối: Tỷ lệ đại diện cho các tầng lớp nhân dân lao động trực tiếp còn quá thấp.
    3. Điều kiện bảo đảm: Chế độ thù lao xét xử còn thấp, kinh phí hoạt động của Đoàn hội thẩm hạn chế, công tác tập huấn nghiệp vụ chưa đi vào chiều sâu.
    4. Cơ chế bảo vệ: Chưa có cơ chế bảo vệ an toàn cụ thể, hữu hiệu cho HTND và gia đình khi tham gia xét xử các vụ án phức tạp, có nguy cơ bị đe dọa hoặc trả thù.

Chương 4: Yêu cầu và các giải pháp tăng cường vai trò của hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp nhằm tăng cường vai trò của HTND:

  • Các yêu cầu đặt ra:

    • Thể chế hóa đầy đủ các quan điểm cải cách tư pháp của Đảng theo Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW.
    • Bảo đảm nguyên tắc hiến định về độc lập xét xử của thẩm phán và hội thẩm.
    • Mở rộng và nâng cao tính đại diện thực chất của các tầng lớp nhân dân.
    • Đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự trong Nhà nước pháp quyền XHCN.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:

    1. Hoàn thiện các quy định pháp luật: Sửa đổi, bổ sung quy định của BLTTHS và Luật Tổ chức TAND về tiêu chuẩn, điều kiện của HTND; chuẩn hóa quy trình giới thiệu, hiệp thương và bầu cử của Ủy ban MTTQ và HĐND; quy định rõ ràng thủ tục miễn nhiệm, bãi nhiệm; xác định cụ thể trách nhiệm pháp lý của hội thẩm trong trường hợp biểu quyết sai sót gây hậu quả nghiêm trọng.
    2. Đổi mới quy trình tham gia xét xử: Bảo đảm quyền tiếp cận và thời gian nghiên cứu hồ sơ độc lập của HTND trước khi mở phiên tòa; tăng cường sự phối hợp và phân công xét hỏi bình đẳng giữa thẩm phán và hội thẩm tại phiên tòa; bảo đảm nguyên tắc nghị án dân chủ, thực chất.
    3. Cải tiến công tác tổ chức và quản lý: Củng cố tổ chức và hoàn thiện quy chế hoạt động của Đoàn hội thẩm; tăng cường phối hợp định kỳ giữa TAND, Thường trực HĐND và Ban Thường trực Ủy ban MTTQ cấp tỉnh, cấp huyện.
    4. Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn: Đổi mới chương trình và phương pháp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ TTHS, kỹ năng xét hỏi và nghiên cứu hồ sơ cho hội thẩm theo hướng thực hành tình huống án thực tế.
    5. Bảo đảm chế độ, chính sách và cơ chế bảo vệ: Nâng mức thù lao xét xử tương xứng với trách nhiệm; trang bị cơ sở vật chất, phòng làm việc riêng cho hội thẩm tại tòa án; xây dựng quy định pháp lý về bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản và danh dự của HTND cùng người thân khi thực hiện nhiệm vụ xét xử.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn như sau:

  • Về mặt lý luận:

    • Là công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu đầu tiên về HTND trong TTHS ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
    • Hệ thống hóa, bổ sung và làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, vai trò, địa vị pháp lý, các mối quan hệ tố tụng và các yếu tố tác động đến HTND trong TTHS.
    • Phân tích sự hình thành, phát triển của cơ chế đại diện nhân dân trong xét xử án hình sự từ góc độ lịch sử pháp lý Việt Nam (từ thời kỳ phong kiến, thời Pháp thuộc, giai đoạn từ 1945 đến nay) và so sánh lý luận với các mô hình tố tụng trên thế giới.
  • Về mặt thực tiễn:

    • Khảo sát, phân tích làm rõ thực trạng quy định và áp dụng pháp luật về HTND trong TTHS tại Việt Nam từ sau khi có Hiến pháp năm 2013 đến nay.
    • Chỉ ra các ưu điểm, bất cập, hạn chế và nguyên nhân thực tế trong công tác bầu cử, quản lý, nghiên cứu hồ sơ, xét xử tại phiên tòa, chế độ đãi ngộ và trách nhiệm pháp lý của HTND.
    • Cung cấp các luận cứ thực chứng thông qua khảo sát xã hội học (100 người) và tổng hợp số liệu thống kê xét xử tại nhiều địa phương (Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Hưng Yên) giai đoạn 2008-2021.
  • Về kiến nghị và giải pháp:

    • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi về mặt lý luận, lập pháp và tổ chức thực thi nhằm nâng cao vai trò của HTND trong TTHS.
    • Đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể liên quan đến quy trình lựa chọn, bầu cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm; cơ cấu thành phần HĐXX; nhiệm vụ và quyền hạn của HTND trong quá trình nghiên cứu hồ sơ và tranh tụng tại tòa án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:

    • Luận án giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu ở chế định HTND trong xét xử vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện; không nghiên cứu chế định Hội thẩm quân nhân trong hệ thống Tòa án quân sự.
    • Về thời gian, luận án tập trung khảo sát sâu giai đoạn từ khi ban hành Hiến pháp năm 2013 đến thời điểm hoàn thành luận án, các giai đoạn trước chủ yếu mang tính kế thừa lịch sử.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Nghiên cứu chế định Hội thẩm quân nhân trong Tòa án quân sự các cấp trong TTHS.
    • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động của việc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Bộ luật Tố tụng hình sự trong giai đoạn cải cách tư pháp mới đối với vị trí, vai trò của HTND.
    • Nghiên cứu cơ chế đại diện nhân dân trong các lĩnh vực tố tụng khác (tố tụng dân sự, tố tụng hành chính).

Giá trị tham khảo

Luận án là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn:

  • Đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu chuyên khảo chuyên sâu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học, đặc biệt là các chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, Lịch sử nhà nước và pháp luật, Tổ chức bộ máy nhà nước. Phần tổng quan tài liệu (Chương 1) và cơ sở lý luận (Chương 2) cung cấp hệ thống khái niệm, phân tích từ nguyên và so sánh quốc tế có giá trị trích dẫn cao.
  • Đối với công tác xây dựng pháp luật: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, TAND tối cao trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức TAND, Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm.
  • Đối với hoạt động thực tiễn tư pháp: Là tài liệu tham khảo cho TAND các cấp, Đoàn hội thẩm, Thường trực HĐND và Ủy ban MTTQ các cấp trong việc quy hoạch, giới thiệu, bầu cử, quản lý, tập huấn nghiệp vụ và tổ chức cho HTND tham gia xét xử hình sự đạt hiệu quả cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ "Hội thẩm nhân dân" có nguồn gốc từ đâu và việc đổi tên từ "Phụ thẩm nhân dân" năm 1950 có ý nghĩa gì?

Về mặt từ nguyên, "hội thẩm" là từ ghép Hán - Việt: "hội" là gặp gỡ, hội họp; "thẩm" là biết rõ tình hình, khảo xét, xử đoán. "Hội thẩm" nghĩa là người thấu suốt tình lý tham gia việc xử án. Từ năm 1945 đến năm 1950, Việt Nam dùng tên gọi "phụ thẩm nhân dân". Đến ngày 22/5/1950, Sắc lệnh số 85-SL chính thức đổi thành "hội thẩm nhân dân". Việc đổi tên này khẳng định vị thế độc lập, bình đẳng, có quyền phán quyết ngang quyền với thẩm phán trong HĐXX, không đơn thuần là người mang tính phụ trợ như tên gọi "phụ thẩm" trước đó.

2. Luận án chỉ ra điểm bất cập lớn nhất về cơ cấu thành phần HTND ở Việt Nam hiện nay là gì?

Luận án chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng về tính đại diện: có tới 99,95% hội thẩm là cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng hưu trí (nhóm chỉ chiếm 7% dân số cả nước), trong khi chỉ có 0,03% hội thẩm đại diện cho 93% dân số còn lại (các tầng lớp nhân dân lao động, doanh nhân, các ngành nghề xã hội khác). Điều này làm hạn chế khả năng phản ánh đa dạng kiến thức thực tiễn và tâm tư của mọi tầng lớp xã hội tại phiên tòa.

3. Mô hình HTND ở Việt Nam khác biệt như thế nào so với mô hình Bồi thẩm đoàn ở các nước Thông luật?

Ở các nước Thông luật, bồi thẩm viên được lựa chọn ngẫu nhiên theo từng vụ án, chỉ tham gia xét xử các vụ án nghiêm trọng, ngồi nghe tranh tụng và chỉ đưa ra phán quyết bị cáo có tội hay không có tội (quyết định hình phạt do thẩm phán chuyên nghiệp đưa ra). Ngược lại, ở Việt Nam, HTND do HĐND bầu theo nhiệm kỳ 5 năm, tham gia xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án hình sự không áp dụng thủ tục rút gọn, chiếm đa số trong HĐXX, ngang quyền với thẩm phán và cùng thẩm phán trực tiếp xét hỏi, nghị án và quyết định cả về tội danh, mức hình phạt lẫn trách nhiệm dân sự.

4. Địa vị pháp lý của HTND trong TTHS phát sinh và chấm dứt khi nào?

Địa vị pháp lý của HTND trong TTHS mang tính giai đoạn. Địa vị này phát sinh kể từ thời điểm HTND được Chánh án TAND phân công tham gia giải quyết vụ án hình sự cụ thể và tồn tại trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử, tham gia xét xử tại phiên tòa sơ thẩm cho đến khi kết thúc phiên tòa. HTND không tham gia vào các giai đoạn tố tụng khác như khởi tố, điều tra, truy tố hoặc các thủ tục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

5. Dữ liệu thực chứng nào được luận án sử dụng để phân tích thực trạng bồi thường oan sai và hoạt động xét xử?

Luận án sử dụng số liệu thống kê quốc gia giai đoạn 2010 - 2020 (giải quyết trên 420 vụ việc bồi thường oan sai với số tiền trên 225 tỷ đồng); số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm cả nước các năm 2018, 2019, 2020; số liệu thực tế tại TAND TP. Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội (Hoài Đức, Phúc Thọ, Hoàng Mai), Hưng Yên (Tiên Lữ) giai đoạn 2008-2021; và kết quả khảo sát xã hội học do tác giả thực hiện vào tháng 5/2020 trên mẫu 100 người có trình độ, quan tâm đến tư pháp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Liêu Chí Trung là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về chế định HTND trong lĩnh vực TTHS tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ các vấn đề lý luận về khái niệm, nguồn gốc, địa vị pháp lý, tính chất ngang quyền và mối quan hệ của hội thẩm với các chủ thể tố tụng; đồng thời phân tích thực trạng quy định và áp dụng pháp luật dựa trên các dữ liệu thực chứng từ sau Hiến pháp năm 2013. Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và các yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật, đổi mới quy trình xét xử, nâng cao năng lực và bảo đảm chế độ cho HTND, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.