CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Những vấn đề lý luận về bị cáo trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm bị cáo trong tố tụng hình sự Như đã biết theo quy định của pháp luật TTHS thì các giai đoạn từ khởi tố, điều tra cho đến truy tố chỉ là giai đoạn thu thập nguồn chứng (tìm kiếm thông tin) chứng minh sự việc phạm tội xảy ra mà chưa phải là qúa trình xác định VP, TP. Do đó xét xử tại phiên tòa mới là giai đoạn quan trọng nhằm xác định có phạm tội hay không phải là tội phạm của một người thực hiện hành vi trái PL.
Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố VAHS, khởi tố bị can. Bị can sẽ trải qua quá trình điều tra, truy tố, cho đến khi TAND ra quyết định đưa bị can (người bị VKS buộc tội) ra xét xử thì bị can lúc này được gọi là bị cáo. Theo quy định tại Điều 50 BLTTHS 2003 thì “Bị cáo là người bị Tòa án quyết đưa vụ án ra xét xử” [28]. Vậy nên khái niệm bị cáo được hiểu trong phạm vi hẹp nhưng cũng đã nêu lên được, sự việc một người bị truy cứu TNHS hay bị VKS truy tố thì chưa được gọi là bị cáo, chỉ đến khi TAND ra quyết định đưa VAHS ra xét xử thì bị can mới được gọi là bị cáo.
Về mặt ngôn ngữ học, có thể hiểu bị cáo là người cụ thể trong xã hội, có hành vi gây ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến sự việc, đối tượng cụ thể. Theo từ điển luật học, thì bị cáo là người bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử [59], định nghĩa pháp lý về khái niệm bị cáo, bị cáo là người bị truy cứu TNHS trước Tòa án. Như vậy, có thể hiểu là sau khi có quyết định truy tố của VKS và hồ sơ VAHS được chuyển đến TAND, thì vẫn coi người bị VKS truy tố là bị can, chỉ khi có quyết định của TAND đưa VAHS ra xét xử mới coi người đó là bị cáo. Bị cáo được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, tham gia phiên tòa, đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch, đưa ra chứng cứ và những yêu cầu, tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa, nói lời sau cùng trước khi nghị án, kháng cáo bản án và quyết định sơ thẩm.
Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của tòa án. Trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng, thì có thể bị áp giải. 9 Luan van Bị cáo là người bị TAND đưa ra xét xử, là người bị VKS truy tố và buộc tội, là người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS và được gọi là VAHS. Tuy nhiên không đồng nghĩa với việc bị cáo được coi là nghười có tội vì theo quy định tại Điều 31 Hiếp pháp 2013 thì: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật” [33].
Mặc dù bị tình nghi là người đã thực hiện hành vi vi phạm PL hình sự dẫn đến là người bị TAND đưa ra xét xử nhưng khi chưa có bản án kết tội của TAND có hiệu lực hoặc đã có bản án mà bản án nhưng bản án đó vẫn chưa có hiệu lực pháp thì cũng chưa được xem người đó là có tội. Vậy nên, khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với chủ thể của tội phạm. Bị cáo chỉ là một trong những chủ thể tham gia TTHS được quy định tại khoản 7 Điều 55 BLTTHS 2015 [29], bị cáo tham gia vào quá trình giải quyết VAHS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ. Trong BLTTHS 2015 đã quy định khái niệm bị cáo trong phạm vi rộng hơn, bổ sung thêm pháp nhân cũng có thể là bị cáo.
Mà cụ thể tại khoản 1 Điều 61 quy định: Bị cáo là pháp nhân được thực hiện qua người đại diện hợp pháp của pháp nhân theo quy định của BLHS 2015 [29]. Tức là những người hoặc pháp nhân đã bị TAND quyết định đưa xét xử mới gọi là bị cáo, bị cáo tham gia trong giai đoạn xét xử khi đó họ mới có đầy đủ quyền và nghĩ vụ bị cáo được luật TTHS quy định. Nếu pháp nhân thực hiện hành vi phạm thì đều bị TAND quyết định đưa ra xet xử như mọi công dân với tư cách xét xử là bị cáo. Quyết định đưa ra xét xử của TAND đối với bị cáo là pháp nhân sẽ được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, Do đó, tư cách tham gia TTHS của bị cáo sẽ xuất hiện kể từ khi TAND ra quyết định đưa VAHS ra xét và chấm dứt khi VAHS được đình chỉ hoặc khi có bản án kết tội có hiệu PL được thi hành.
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm bị cáo trong tố tụng hình sự như sau: Bị cáo là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại bị Tòa quyết định đưa ra xét xử về hành vi vi phạm pháp luật. Chỉ những người, pháp nhân bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử mới được gọi là bị cáo và bị cáo không đồng nghĩa với người có tội, không được xem bị cáo là người có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa hoặc bản án kết tội đó chưa có hiệu 10 Luan van lực thi hành. Khi tham gia tố tụng bị cáo có quyền và nghĩa vụ được PL quy định và bảo đảm thực hiện. Đặc điểm bị cáo trong tố tụng hình sự Một là: Bị cáo là người tham gia tố tung Bị cáo là một trong những chủ thể tham gia TTHS có quyền được PL bảo vệ nhưng không mang quyền lực NN, bị cáo tham gia TTHS nhằm để xác định sự thật của VAHS, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội.
Khi tham gia TTHS, bị cáo được hưởng quyền và thực hiện quyền của bị cáo theo quy định tại Điều 61 BLTTHS 2015 [29]. Tuy nhiên do bị cáo tham gia TTHS với vai trò là người bị đưa ra XXST vụ án hình sự. Nên bị cáo luôn ở trong tình thế bất lợi hơn những người tham gia TTHS khác vì họ phải gánh chịu ảnh hưởng của dư luận xã hội. Với quan điểm bị cáo luôn là người có tội vì không có thì làm sao lại bị TAND đưa ra xét xử, bị cáo chưa bị HĐXX kết tội nhưng quan hệ xã hội của bị cáo cũng ít nhiều bị ảnh hưởng.
Vì đại đa số người dân đều cho rằng bị cáo là người phạm tội trước khi chưa có bản án, quyết định của TAND. Bị cáo là người tham gia TTHS nhằm xác định sự thật của VAHS, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo có quyền được biết mình bị buộc tội về tội gì? Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa khác bào chữa cho mình; Quyền được chứng minh sự vô tội của mình bằng việc đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Quyền được khiếu nại các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; Quyền được tham gia phiên tòa và được tranh luận tại phiên tòa; Quyền không bị xét xử một cách qúa chậm trễ thể hiện các quy định về thời hạn tạm giữ để khởi tố VAHS; thời hạn điều tra; thời hạn truy tố, thời hạn xét xử ., cụ thể như: Khi hết thời hạn tạm giữ hình sự nếu Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định không có căn cứ để khởi tố VAHS và khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người bị bắt tạm giữ; Nếu hết thời hạn điều tra không chứng minh được tội phạm thì phải đình chỉ điều tra VAHS và đình chỉ VAHS đối với bị can, hủy bỏ hết quyết định khởi tố bị can và các quyết định TTHS về biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với bị can, trả lại cho bị can đầy đủ quyền công dân, có thể phải công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại theo quy định của PL. 11 Luan van Ngoài ra bị cáo tham gia trong TTHS cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với bản thân họ, là nhằm mục đích đảm bảo quyền và nghĩa vụ của bị cáo, để đảm bảo quyền lợi của bị cáo, cơ quan THTT phải xác định sự xuất hiện của tư cách bị cáo.
Tham gia hoạt động TTHS với tư cách là bị cáo, họ sẽ được thực hiện các quyền đặc thù như: Nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án; xem biên bản phiên tòa; yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa, quyền kháng cáo mà chỉ có bị cáo mới có quyền, còn những người tham gia TTHS khác thì không. Hai là, Bị cáo xuất hiện trong vụ án hình sự Bị cáo xuất hiện trong VAHS để chứng minh hành vi phạm tội có xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội. Đây là những vấn đề đầu tiên cần phải chứng minh trong VAHS. Trong mỗi VAHS cần phải chứng minh một cách khẳng định rằng hành vi bị khởi tố, điều tra, truy tố đã xảy ra trên thực tế.
Việc chứng minh đó thể hiện ở việc làm sáng tỏ một cách đầy đủ và toàn diện nhất tất cả các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, có ý nghĩa đối với việc định tội danh đúng hay sai và suy cho cùng nó có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn VAHS. Đó là những dấu hiệu thuộc chủ thể và mặt khách quan của tội phạm. Ngoài ra bị cáo xuất hiện trong VAHS là để chứng minh có thực hiện hành vi phạm tội hay không, có lỗi hay không có lỗi, do lỗi vô ý hay cố ý, có năng lực chịu TNHS hay không?, động cơ, mục đích thực hiện tội phạm là gì?. Chứng minh bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội, nghĩa là xác định chủ thể của tội phạm.
Sau đso là để xác định chủ thể đó có lỗi hay không?. Nếu có lỗi thì là lỗi cố ý hay vô ý?. Mục đích và động cơ phạm tội cần được chứng minh. Khái quát lại những dấu hiệu cơ bản thuộc chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm được làm sáng tỏ.
Cùng với thì việc bị cáo xuất hiện trong VAHS có ý nghĩa quan trọng giúp HĐXX chứng minh sự thật khách quan, trung thực chính xác làm cơ sở để xét xử đúng người, đúng tội.