Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE HỘI THÁM NHÂN DAN TRONG PHÁP LUAT TO TUNG HINH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm hội thẩm nhân dân và vai trò của Hội tham nhân dan trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân 1. Khái niệm hội thẩm nhân dân trong to tụng hình sự Hội thâm nhân dân là người đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Toà án. Tiếng nói của hội thâm nhân dân trong quá trình xét xử của Toà án là tiếng nói của nhân dân.
Do điều kiện sông, sinh hoạt, Hội thâm nhân dân là người gần dân nhất, là người có điều kiện năm bat và hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân từ đó đúc kết cho mình những kinh nghiệm song quý bau. Do đó khi tham gia vào quá trình xét xử, Hội thâm nhân dân có thể giúp Tham phán hiểu rõ hơn nguyên nhân, diều kiện hoàn cảnh dan dén phạm tội của bị cáo. Cũng như là người làm việc, công tác trong rất nhiều ngành nghe, lĩnh vực của xã hội nên Hội thâm nhân dân tích luỹ nhiều kiến thức chuyên môn trong các lĩnh vực mà họ làm việc, công tác. Với kinh nghiệm sóng và kiến thức của mình, Hội thâm nhân dân giúp Thâm phán đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, chính xác hơn, giúp Hội đồng xét xử vững tâm hơn khi quyết định.
Như vậy có thé thay Hội thâm nhân dân vừa là người đại diện cho nhân dân xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, vừa là người đại diện cho nhân dân phán xét vụ án. Trong quá trình tham gia hoạt động xét xử tại Toà án, Hội thâm nhân dân được quyền nghiên cứu hồ sơ, tài liệu vụ án. Khi tham gia Xét Xử tại phiên toa, Hội thâm nhân dân được trực tiếp hỏi bị cáo, người bị hại, nguyện đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyên lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và yêu cầu họ cung cấp tài liệu, thông tin liên quan dé làm sáng tỏ các tình tiết, sự việc trong vụ án. Qua đó đưa ra các quyết định trong bản án, xác định có tội hay không có tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người thực hiện hành vi phạm tội, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự.
Trong khi xét hỏi, cùng với Tham phán, Hội thẩm nhân dân đã giúp cho bị cáo, những người tham gia tô tụng khác nhận thức rõ các quy định của pháp luật, giúp cho bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, không những vi phạm các quy định của pháp luật, mà còn phạm các quy tắc chuẩn mực đạo đức, hành vi ay không những bị pháp luật trừng trị, mà còn bị dư luận xã hội lên án. Qua đó giúp cho những người tham gia tố tụng rút ra cho mình bài học kinh nghiệm từ vụ án. Có thé nói, Hội thâm nhân dân đã đóng góp rất thiết thực vào việc tuyên truyền, pho biến, giáo dục pháp luật cho bị cáo và những người tham dự phiên toà. Là người đại diện cho nhân dân trực tiếp tham gia vào hoạt động xét xử nên đòi hỏi Hội thầm nhân phải có trình đồ về mặt pháp lý nhất định, phải nam bắt được các tình tiết, diễn biến của vụ án, từ đó có định hướng về cách giải quyết vụ án.
Trong trường hợp Tham phan, người cùng tham gia trong hội đồng xét xử một vụ án cụ thê có những ý kiến trái với quy định của pháp luật, không phù hợp với các tinh tiết đã được xác định trong vụ án, Hội thâm nhân dân có thé đưa ra các ý kiến đúng đắn, phù hợp nhằm hạn chế những sai phạm của Thâm phán trong xét xử, góp phan đưa ra những quyết định khách quan, công bang, dé bản án trở nên “Tam phục- khâu phục” khi ban hành, mang lại gia trị công bằng cho người dân, cũng như góp phần nâng cao lòng tin trong quần chúng nhân dân, xã hội vào ngành Toà án như là cán cân mang lại công lý cho mọi người. Như vậy, khi tham gia xét xử, Hội thâm nhân dân còn thể hiện vai trò giám sát của nhân dân đối với các hoạt động xét xử của Toa án. Với vai trò thay mặt nhân dân tham gia hoạt động xét xử của Toà án, góp phần đưa ra những phán quyết đúng đắn, cũng như giám sát hoạt động xét xử của Toà án. Từ đó có thê thấy, Hội thâm nhân dân là một chế định có vai trò quan trọng trong hoạt động xét xử của Toa án nói chung và hoạt động xét xử các vụ án hình sự nói riệng.
Do đó tác giả thay rang cần đi sâu vào tim hiệu khái niệm dưới góc độ khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng thì Hội thâm nhân dân được hiéu như thé nào? Theo Từ điền tiếng Việt, “Hội thâm nhân dân” được hiểu là “ngwoi do Hội dong nhân dân bầu ra trong một thời gian nhát định cùng với Tham phan làm nhiệm vụ xét xứ các vụ án xảy ra ở địa phương”. Qua nội dung khái niệm trên có thé thấy, Hội thâm nhân dân là người được Hội đồng nhân dân bau theo nhiệm kỳ dé thực hiện nhiệm vụ của họ cùng với Tham phan xét xử các vụ án thuộc thâm quyên của Toa án [ 5, tr. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “Hội thâm nhân dân” xuất phát từ thuật ngữ “liội thẩm”. Theo khoản 2, Điều 1, Pháp lệnh só 02/2002/PL- UBTVQH 11, ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Uy ban Thường vụ Quốc hội về Tham phán và Hội thâm Toà án nhân dân (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh Thâm phán và Hội thâm Toà án nhân dân) được định nghĩa, “Hoi thâm là người duoc bau hoặc cu theo quy định cua pháp luat dé làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thâm quyền cua Toà án”.
Từ khái niệm trên được hiéu, ở nước ta, Hội thâm Toà án nhân dân gồm có: - Hội thâm nhân dân tham gia xét xử các vụ án thuộc thâm quyền xét xử của Toà án nhân dân tỉnh, thành phó trực thuộc trung ương, Hội thâm nhân dân tham gia xét xử các vụ án thuộc thâm quyên xét xử của Toà án nhân dan huyện, quận, thị xã thành phó thuộc tỉnh (gọi chung là Hội thâm nhân dân); - Hội thâm quân nhân tham gia xét xử các vụ án thuộc thâm quyền xét xử của Toà án quan sự quân khu và tương đương, Hội thâm quân nhân tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự khu vực (gọi chung là Hội thẩm quan nhân). Điều 3, Luật Tô chức Toa án nhân dân năm 2002 quy định: “Chế độ bau Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với các Toà án nhân dân địa phương.hé độ cử Hội thẩm quán nhân được thực hiện đối với các Toà án quan sự quan khu và tương đương, các Toa an quán sự khu vực `. Với quy định trên, “Hội thâm nhân dân”, thuộc hệ thống Toà án nhân dân được hiéu là người được bau theo quy định của pháp luật dé làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thâm quyền của Toà án nhân dân; “Hội thâm quân nhân” được hiểu là người được cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc tham quyền xét của Toa án quân sự. Như vậy, có thê thấy Hội thâm nhân dân và Hội thẩm quân nhân cùng tham gia các hoạt động xét xử có sự khác nhau vẻ chế độ bầu và cử.
Tham gia hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân là các Hội thầm được nhân dân tín nhiệm được bầu lên, còn tham gia hoạt động, xét xử tại Toà án quan sự là các hội thâm được de cử. Nhu vậy, thuật ngữ “Hội thắm” theo Pháp lệnh Tham phán và Hội thâm Toa án nhân dân bao gom “Hội thầm nhân dan” va “Hội thâm quân nhân". Trong phạm vi luật văn của minh, tác gia chỉ nghiên cứu các van dé liên quan đến Hội thâm tham gia xét xử tại Toà án nhân dân trong Luật tố tụng Hình sự Việt Nam. Theo Quy chế về Tổ chức và Hoạt động của Hội thầm Tòa án nhân dân, thì Hội thâm Tòa án nhân dân được gọi chung là Hội thâm, và được định nghĩa là "Hội thâm là người được bầu theo quy định của pháp luật dé làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thầm quyền của Tòa án.
Khi đói chiếu với thuật ngữ "Hội thâm Tòa án nhân dân" trong pháp lệnh Tham phán và Hội thâm Tòa án nhân dân và thuật ngữ "Hội thâm" được sử dụng trong Quy ché vé Tổ chức và hoạt động của Hội thâm Tòa án nhân 10 dân, thì hai thuật ngữ này nói chung đều dé cập đến "Hội thẩm nhân dan" là người được bầu theo quy định của pháp luật dé làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thầm quyền của Tòa án. Tuy nhiên, như đã trình bay ở trên, thuật ngữ "Hội thâm Tòa án nhân dân" theo Pháp lệnh Tham phán và Hội thâm Tòa ~ 2S.) án nhân dân, bao gom cả "Hội thâm nhân dân" và "Hội thầm quân nhân”, do đó, theo quan điểm của tác giả, việc sử dụng thuật ngữ "Hội thấm Tòa án nhân dân" hay "Hội thâm" trong Quy chế đề nói đến những người được bau " theo quy định của pháp luật dé làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thắm quyền của Tòa án là chưa chính xác, không đúng theo quy định của Pháp lệnh. Do đó, để đảm bảo tính khoa học pháp lý của việc sử dụng thuật ngữ cùng như đảm bảo tính phù hợp của văn bản (Quy ché là văn bản dưới luật, có giá trị pháp lý thấp hơn Pháp lệnh và được ban hành đề cụ thể hóa Pháp lệnh, nên không thê trái với quy định của Pháp lệnh, theo tác giả, thuật ngữ “Hội thâm Toà án nhân dan” hay “Hội thâm” sử dụng trong Quy chế cần phải được liều và nên sửa lại là “Hội thẩm nhân dan” và được định nghĩa “Hội thầm nhân dân” là người được bầu theo quy định của pháp luật đề làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thâm quyền của Toà án. Khái niệm này không nều chủ thé bau ra Hội thâm nhân dân là ai mà chi đề cập Hội thẩm nhân dân được bầu theo quy định của pháp luật và làm nhiệm vụ của họ là xét xử những vụ án thuộc thầm quyền cua Toa án.