Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẢO LĨNH. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh trong tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh Để việc đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả, pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) nước ta đã quy định các biện pháp cưỡng chế khác nhau. Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS có các biện pháp ngăn chặn (BPNC) nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người thực hiện tội phạm gây khó khăn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Chế định các biện pháp ngăn chặn là một chế định quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự. Việc quy định và áp dụng một cách đúng đắn, chính xác các biện pháp ngăn chặn là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của TTHS để phát hiện chính xác, nhanh chóng, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với kẻ phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới đều có quy định về các biện pháp ngăn chặn. Tùy theo pháp luật của từng nước và ở từng thời điểm khác nhau mà các biện pháp ngăn chặn được quy định có thể có sự khác nhau về số lượng, tên gọi, thủ tục áp dụng… Mặc dù vậy, bản chất chung của các biện pháp này đều là các biện pháp mang tính chất cưỡng chế, do cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) thực hiện nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn những hành vi gây khó khăn, cản trở cho việc giải quyết vụ án hình sự.
Hiện nay, pháp luật TTHS Việt Nam quy định nhóm các BPNC tại Chương VII Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gồm có: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; bắt bị 9 luan an can, bị cáo để tạm giam; giữ người trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ; tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm và tạm hoãn xuất cảnh. Việc áp dụng các BPNC này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cá nhân người bị áp dụng nhất là quyền nhân thân, quyền tự do cá nhân và các quyền con người cơ bản khác. Các BPNC có tính nghiêm khắc hơn so với các biện pháp cưỡng chế khác trong TTHS, nên khi áp dụng các cơ quan THTT cần cân nhắc thận trọng, tránh gây thiệt hại đến quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Bảo lĩnh là một trong những BPNC được quy định trong tố tụng hình sự.
Về khía cạnh ngôn ngữ, theo Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh thì bảo lĩnh nghĩa là “nhận, gánh vác trách nhiệm về một việc gì hay một người nào” [5] hay theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì bảo lĩnh là “dùng tư cách, uy tín của mình để bảo đảm cho hành động, tư cách của người khác” [6]. Còn ở khía cạnh pháp lý, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm bảo lĩnh, có thể nêu ra một số quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn của TTHS áp dụng thay thế cho biện pháp tạm giam được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng” [7]. Quan điểm thứ hai cho rằng: Bảo lĩnh là BPNC được quy định trong BLTTHS do người có thẩm quyền áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc hơn tạm giữ, tạm giam, được áp dụng trong trường hợp không cần thiết phải tạm giam, nhưng thấy cần ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm 10 luan an sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án [8].
Quan điểm này đã nêu lên được những nội dung cơ bản về BPNC bảo lĩnh như chỉ ra được bản chất pháp lý của BPNC bảo lĩnh là biện pháp thay thế biện pháp tạm giam, đối tượng bị áp dụng, điều kiện áp dụng cũng như mục đích khi áp dụng BPNC này. Tuy nhiên, quan điểm này lại chưa đề cập đến các căn cứ cụ thể áp dụng và chủ thể nào có thẩm quyền áp dụng BPNC bảo lĩnh. Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội lại có quan điểm cho rằng: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập” [9]. Quan điểm này đã làm rõ được thẩm quyền áp dụng BPNC bảo lĩnh thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; đối tượng áp dụng là bị can, bị cáo; chủ thể nhận bảo lĩnh có thể là cá nhân hoặc tổ chức; mục đích của biện pháp này là nhằm bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập… Song, quan điểm này cũng chưa đưa ra được căn cứ cụ thể để áp dụng biện pháp này là gì? Còn theo khoản 1 Điều 121 BLTTHS năm 2015 thì: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh”. Như vậy, theo quan điểm của nhà lập pháp thì căn cứ áp dụng BPNC bảo lĩnh chính là căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo nhưng cũng chưa đề cập đến các tiêu chí khác như chủ thể nhận bảo lĩnh, điều kiện và mục đích áp dụng biện pháp này. 11 luan an Như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về cùng một khái niệm “bảo lĩnh”, nhưng về cơ bản các quan điểm nêu trên ở phương diện nào đó đều đã chỉ ra được nội hàm của khái niệm bảo lĩnh. Song phân tích từng quan điểm có thể thấy mỗi quan điểm lại có những hạn chế nhất định.
Có quan điểm nêu ra được bản chất của BPNC bảo lĩnh nhưng lại không nêu căn cứ áp dụng; có quan điểm chỉ ra được căn cứ áp dụng, thẩm quyền áp dụng thì lại thiếu các nội dung liên quan đến điều kiện áp dụng, mục đích áp dụng… Có thể thấy, việc khái niệm này được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau như vậy là do hiện nay chưa có sự hướng dẫn cụ thể của các nhà làm luật cũng như chưa có sự thống nhất chung trong giới khoa học về nội hàm của khái niệm bảo lĩnh. Qua việc phân tích và tổng hợp các quan điểm về BPNC bảo lĩnh, tác giả nhận thấy để xây dựng được khái niệm về BPNC bảo lĩnh một cách đầy đủ, chính xác thì trong khái niệm đó phải đề cập được đến các dấu hiệu đặc trưng của biện pháp này như: Bản chất pháp lý của bảo lĩnh là gì? Thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này? Căn cứ áp dụng? Đối tượng bị áp dụng? Chủ thể nhận bảo lĩnh gồm những ai? Thủ tục và mục đích áp dụng? Từ những vấn đề trên, có thể đưa ra một nhận định khoa học, đầy đủ về khái niệm bảo lĩnh như sau: Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn do những người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, cho phép cá nhân hoặc tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Từ khái niệm trên có thể chỉ ra một số đặc điểm của BPNC bảo lĩnh như sau: Một là, BPNC bảo lĩnh được áp dụng để thay thế cho BPNC tạm giam. Trong trường hợp xét thấy việc áp dụng BPNC tạm giam đối với bị can, bị 12 luan an cáo là không cần thiết và có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định của pháp luật để bảo đảm bị can, bị cáo không tiếp tục phạm tội hoặc cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì cơ quan THTT áp dụng BPNC bảo lĩnh đối với họ.
Hai là, tính chất của BPNC bảo lĩnh ít nghiêm khắc hơn so với biện pháp tạm giữ hay tạm giam. Bởi đối với một số loại tội phạm với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là ít nghiêm trọng hoặc phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng và có cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh… thì được áp dụng BPNC bảo lĩnh. Theo đó, bị can, bị cáo sẽ không bị tách ra khỏi cộng đồng, không bị hạn chế các quyền công dân khác như người bị tạm giữ, tạm giam. Điều này đã thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước ta.
Bên cạnh đó, ưu điểm của việc áp dụng BPNC này là tránh được tình trạng quá tải trong các nhà tạm giữ, trại tạm giam, giúp tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước. Ba là, đối tượng bị áp dụng BPNC bảo lĩnh chỉ có thể là bị can, bị cáo. Không phải tất cả các bị can, bị cáo thuộc đối tượng bị tạm giam đều có thể được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh mà chỉ bị can, bị cáo thuộc đối tượng bị tạm giam và có đủ các căn cứ, điều kiện áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 109 và khoản 1 Điều 121 BLTTHS năm 2015 thì mới có thể được áp dụng BPNC bảo lĩnh.